Tục cưới hỏi của người Tà Mun: Nhà gái ra điều kiện, nhà trai đưa rể
Ấp Suối Đá, xã Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, hiện có 96 hộ dân hơn 300 nhân khẩu. Bà con ở đây tự nhận mình là người Tà Mun. Tục cưới hỏi của họ có nhiều điểm khá đặc biệt.
Già làng Lâm Văn Lức (76 tuổi) cho biết, đa số người Tà Mun ở đây theo đạo Cao Đài. Điều đó gắn với gốc gác của cả cộng đồng. Theo các già làng trước kia kể lại, khoảng 100 năm trước, người Tà Mun từ Bình Phước di cư về Tây Ninh, ban đầu họ sống gần Tòa thánh Cao Đài (phường Long Hoa, tỉnh Tây Ninh). Đức Hộ pháp - Phạm Công Tắc giúp họ dựng nhà, lập xóm và đặt cho họ Lâm, vì khi đó người Tà Mun chưa có họ. Người Tà Mun định cư ở Ninh Thạnh và Suối Đá. Ngành văn hóa Tây Ninh thống kê nhóm người Tà Mun trong tỉnh hiện có hơn 1.800 người.

Hầu hết các hoạt động cưới hỏi, ma chay của người Tà Mun tại tỉnh Tây Ninh đều có sự tham dự, chủ trì của già Làng. Hiện già làng là ông Lâm Văn Lức
ẢNH: BẮC BÌNH
Theo già làng Lâm Văn Lức, đến nay Tà Mun chưa có tên trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam. Trong sinh hoạt hằng ngày, bà con Tà Mun nói tiếng Khmer. Mỗi năm, xóm có 2 lễ lớn là Sene Dolta và tết Chôl Chnăm Thmây. Với các ngày lễ lớn của người Kinh thì bà con Tà Mun cũng tham gia đầy đủ.
Nét riêng đậm nhất của cộng đồng này nằm ở phong tục cưới hỏi. Già làng Lâm Văn Lức cho biết, khi chàng trai quan tâm cô gái thì ngỏ ý và nếu cô gái đồng ý thì chuyện cưới hỏi bắt đầu. Lễ vật nhà trai phải lo rất cụ thể. Đó là 32 món trái cây, kèm theo 100 kg thịt he, 1 khạp rượu 100 lít. Nhà trai còn phải lo một căn nhà cho đôi vợ chồng trẻ. Cuối cùng là 50 triệu đồng tiền mặt.
Đó là tục lệ từ xưa đến nay. Tuy nhiên, nếu nhà gái có yêu cầu thêm thì nhà trai phải đồng ý. Toàn bộ phần lễ này nạp một lần. Nạp xong là xong, không phát sinh về sau.

Theo tục lệ, các cô gái Tà Mun sẽ rước chàng rể về nhà mình ở
ẢNH: NHÂN VẬT CUNG CẤP
Người đứng ra thương lượng không phải cha mẹ hai bên. Việc đó thuộc về các bậc cao niên có uy tín trong xóm. Nhà gái là bên nêu điều kiện. Nhà trai lo liệu theo.
Trước lễ chính có đám nói và đám hỏi. Không gian trang trí bằng bông hoa và trái cây. Hai họ gặp gỡ, ăn uống, thống nhất các khoản.
Ngày cưới, cả nhà trai tổ chức đưa rể sang nhà gái. Đoàn người mang theo quà. Bà con mặc trang phục truyền thống mang nhiều nét Khmer. Trong tiệc có điệu múa lâm thôn.
Cưới xong, chú rể sang nhà vợ ở luôn. Chỉ khi hoàn cảnh nhà gái quá khó, đôi vợ chồng mới quay về bên nhà trai ở.

Ảnh tiệc cưới của cô gái Tà Mun lấy chồng là người người Kinh. Hôn lễ được thực hiện theo tục lệ của người Kinh, nhưng chàng rể vẫn vui vẻ mặc trang phục truyền thống của người Tà Mun tại lễ cưới
ẢNH: NHÂN VẬT CUNG CẤP
Tài liệu nghiên cứu gọi đây là tục "cưới chồng". Ông mai bên nhà trai sang nhà gái dạm hỏi trước, gọi là Hanh-Lip-Xana. Nhưng bên tổ chức rước rể lại là nhà gái, gọi là Hanh num-Kon Klô Xua hay Chun Kon Klô. Khi đưa chàng rể qua nhà gái, đàng trai hát múa bài đưa rể Xavên-Keo Kôc. Theo già làng Lâm Sanh, bài bản này gần như đã thất lạc, thất truyền.
Nghi thức xưa còn có lễ cột chỉ. Cô dâu và chú rể quỳ tựa vào nhau trên chiếu, bốn cánh tay chồng chéo, cùng nắm một tàu chuối cắm bên cạnh con dao. Tay cô dâu luôn đặt bên dưới tay chú rể. Sau đó, đôi tân lang tân nương đút nhau ăn chuối, cùng uống một ly nước dừa tươi. Cuối cùng, người vợ dẫn chồng vào buồng.
Tuy vậy, theo già làng Lâm Văn Lức, nhiều nghi thức trong số này nay đã mai một.
Khác gì tục cưới hỏi của người Kinh tại Tây Ninh?
Trước hết là hướng đi của đám cưới. Người Kinh đưa cô dâu về nhà chồng. Người Kinh đi rước dâu, còn người Tà Mun đi giao rể. Toàn bộ trục nghi lễ vì thế đảo chiều.
Thứ hai là nơi ở sau hôn lễ. Người Kinh theo nếp "xuất giá tòng phu". Cô dâu về làm dâu, sống bên gia đình chồng. Người Tà Mun ngược lại. Chú rể ở nhà vợ ít nhất 3 năm rồi mới ra riêng. Ngôi nhà trong sính lễ của nhà trai tại lễ cưới thường được quy giá trị bằng tiền mặt, sau đó họ cũng cất nhà gần nhà cha mẹ vợ.

Già làng Lâm Văn Lức và cô cháu gái ruột tại lễ thành hôn của cô
ẢNH: NHÂN VẬT CUNG CẤP
Thứ ba là bên nắm quyền đặt điều kiện. Với người Kinh, nhà trai thường chủ động đưa ra lễ vật. Ở người Tà Mun, nhà gái mới là bên ra "luật".
Thứ tư là cách nạp lễ. Người Kinh thường chia thành nhiều bước: dạm ngõ, ăn hỏi, nạp tài, lễ cưới. Mỗi bước một phần lễ vật. Người Tà Mun gom lại một lần duy nhất. Trong đó có cả một căn nhà, thứ mà đám cưới người Kinh hiếm khi tính vào sính lễ.
Thứ năm là quy mô hai bên. Đám cưới người Kinh thường lấy nhà trai làm trọng. Với người Tà Mun, nhà gái mới là bên tổ chức linh đình hơn. Dù giàu hay nghèo cũng phải đúng nghi lễ.
Thứ sáu là vai trò người thu xếp. Người Kinh để cha mẹ và họ hàng ruột thịt lo liệu. Người Tà Mun giao việc cho các bậc cao niên có uy tín của cả xóm. Chuyện cưới xin vì thế là việc chung của cộng đồng.
Thứ bảy là quyền chọn bạn đời. Người Tà Mun không có tục sắp đặt hôn nhân cho con cái. Nếp "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó" từng phổ biến trong xã hội người Việt xưa.
Gốc rễ của những khác biệt ấy nằm ở cơ cấu xã hội. Người Tà Mun vốn sống theo chế độ mẫu hệ. Ngày nay, chế độ ấy gần như không còn, dù chế độ gia đình phụ hệ vẫn chưa được xác lập. Tục đưa rể là dấu vết còn lại rõ nhất của nếp mẫu hệ.

Chia sẻ với PV Thanh Niên, già làng Lâm Văn Lức cho biết hầu hết các tục lệ rườm rà xưa cũ của người Tà Mun đều đã không còn hoặc chỉ thực hiện nhẹ nhàng để phù hợp với văn hóa địa phương
ẢNH: H.H
Ở ấp Suối Đá ngày nay, ranh giới văn hóa đã nhòa đi nhiều. Theo già làng Lâm Văn Lức, trẻ con sinh ra trong xóm được khai sinh dân tộc Kinh, mang họ Lâm. Nếu con gái Tà Mun gả cho người khác họ thì nhà gái luôn yêu cầu trong tên con có gán họ Lâm vào liền với họ cha.
Hiện rất ít người Tà Mun còn mặc đồ truyền thống. Chỉ các già làng và phụ nữ cao tuổi còn mặc váy, quấn khăn trên đầu. Lễ cột chỉ, tục ăn chuối, uống nước dừa chỉ còn trong ký ức người già. Song, cốt lõi của tục cưới hỏi vẫn chưa mất. Nhà trai vẫn đưa rể. Chàng trai vẫn về ở bên vợ. Nhà gái vẫn là bên đặt điều kiện. Với người Tà Mun - một cộng đồng chỉ khoảng 1.800 người, đó là phần bản sắc mong manh mà bền bỉ.
Bình luận (0)