Việt Nam bổ sung 3 dấu hiệu đáng ngờ trong giao dịch tiền mã hóa

Khương Nha
Khương Nha
Thực hiện nhiều giao dịch tài sản mã hóa giá trị lớn trong thời gian ngắn mà không có mục đích kinh doanh rõ ràng được xem là dấu hiệu đáng ngờ, có thể vi phạm luật Phòng, chống rửa tiền.

Ngày 24.8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, luật Phòng, chống rửa tiền và luật Các tổ chức tín dụng.

Liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Phòng, chống rửa tiền, về báo cáo giao dịch đáng ngờ (Điều 26), luật quy định đối tượng báo cáo có trách nhiệm báo cáo giao dịch đáng ngờ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi có cơ sở hợp lý để nghi ngờ tài sản trong giao dịch là tài sản do phạm tội mà có.

Việt Nam bổ sung 3 dấu hiệu đáng ngờ trong giao dịch tiền mã hóa  - Ảnh 1.

Đồng xu biểu tượng Bitcoin

ẢNH: KHƯƠNG NHA

Cụ thể, luật bổ sung Điều 33a vào sau Điều 33, quy định 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa. Cụ thể là các dấu hiệu: 

  • Thực hiện nhiều giao dịch tài sản mã hóa giá trị lớn trong thời gian ngắn mà không có mục đích kinh doanh rõ ràng; 
  • Nạp, giao dịch và rút tài sản mã hóa liên tiếp trong thời gian rất ngắn ngay sau khi thiết lập quan hệ khách hàng;
  • Khách hàng truy cập nền tảng của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa qua công cụ cho phép ẩn danh tính hoặc ẩn danh địa chỉ giao thức internet...

Trước đó, Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ ra 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa. Nội dung được xây dựng trên cơ sở khuyến nghị của FATF (Lực lượng đặc nhiệm hành động tài chính), trên cơ sở ý kiến góp ý của Bộ Tài chính, các đơn vị của Bộ Công an. 

Cụ thể, 15 dấu hiệu này được chia thành 4 nhóm gồm: Bất thường trong giao dịch; che giấu nguồn gốc, công nghệ; không minh bạch về danh tính khách hàng; đối tác, khu vực rủi ro cao với lĩnh vực tài sản mã hóa.

Trong danh sách dấu hiệu đáng ngờ có một số đặc điểm đáng chú ý như:

  • Khách hàng từ chối, trì hoãn cung cấp tài liệu nhận biết khách hàng, thông tin về nguồn gốc tài sản; cung cấp tài liệu có dấu hiệu giả mạo hoặc thông tin không nhất quán; hoặc không thể giải thích hợp lý về giao dịch, nguồn gốc tài sản và mối quan hệ với bên đối tác.
  • Sử dụng tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, dịch vụ trộn giao dịch hoặc thực hiện nhiều lần chuyển đổi qua các loại tài sản mã hóa khác nhau nhằm che giấu nguồn gốc, đường đi của tài sản hoặc làm gián đoạn khả năng truy vết giao dịch.
  • Địa chỉ ví tài sản mã hóa của khách hàng xuất hiện trên các nguồn thông tin công khai có liên quan đến hoạt động bất hợp pháp; hoặc tài sản mã hóa nạp, rút có lịch sử qua các cầu nối liên chuỗi được đánh giá có rủi ro cao.
  • Khách hàng có dấu hiệu đứng tên hộ, bị lợi dụng làm trung gian hoặc là nạn nhân của lừa đảo, bao gồm trường hợp khách hàng có hiểu biết hạn chế về tài sản mã hóa nhưng thực hiện giao dịch với tần suất và giá trị lớn không tương xứng với hồ sơ tài chính cá nhân; hoặc thực hiện giao dịch theo chỉ dẫn của bên thứ ba.
  • Giao dịch với nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa chưa được đăng ký, cấp phép hoạt động; hoặc giao dịch liên quan đến quốc gia, vùng lãnh thổ có khuôn khổ phòng, chống rửa tiền yếu kém hoặc thuộc danh sách giám sát tăng cường theo công bố của các tổ chức phòng, chống rửa tiền quốc tế.
  • Khách hàng sử dụng sàn giao dịch tài sản mã hóa hoặc nền tảng giao dịch ở các quốc gia, vùng lãnh thổ đã được cơ quan chức năng Việt Nam và các nước trên thế giới xác định là điểm nóng về tội phạm lừa đảo xuyên quốc gia.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.