VN bứt phá bằng KH-CN: Hành trình đi tìm giá trị của khoa học cơ bản

Quý Hiên
Quý Hiên
04/06/2026 05:45 GMT+7

Khẳng định 'khoa học cơ bản là cơ sở để hình thành công nghệ lõi' của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dấy lên trong giới khoa học - công nghệ kỳ vọng vào sự trỗi dậy, trở thành bức tranh 'đẹp và có ích' của khoa học cơ bản VN.

"Cuộc chiến" để những ngành khoa học cơ bản tồn tại

Cuối năm 2025, khi đang đi công tác ở New Zealand, bà Trần Thị Lành, người sáng lập Viện Nghiên cứu sinh thái chính sách xã hội (SPERI), bỗng nhận được cuộc gọi từ một giáo sư lớn tuổi, khiến bà phải mua ngay vé máy bay để trở về Hà Nội. Nguồn cơn của sự vội vã ấy xuất phát từ nguy cơ bộ môn tài nguyên và môi trường đất của Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) bị "xóa sổ".

Chia sẻ với Thanh Niên, bà Trần Thị Lành cho rằng việc tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18 đáng lẽ phải là một cuộc sàng lọc để đặt đúng người, đúng việc, đúng vị thế. Thế nhưng bản dự thảo "tinh lọc, sắp xếp lại" của Khoa Môi trường lại đề xuất đổi tên khoa thành "Khoa Môi trường và thực phẩm", đồng thời giải thể 3 bộ môn, trong đó có bộ môn tài nguyên và môi trường đất (trước đây là bộ môn thổ nhưỡng thuộc Khoa Sinh học), để gom cơ sở vật chất về một trung tâm nghiên cứu.

VN bứt phá bằng KH-CN: Hành trình đi tìm giá trị của khoa học cơ bản - Ảnh 1.

GS Ngô Việt Trung, nhà toán học hàng đầu của VN, giảng bài trong một lớp thạc sĩ toán của Trường ĐH Khánh Hòa

ẢNH: XUÂN PHƯƠNG

Bà Lành đau xót nhận định trong triết lý khoa học, đất chính là "mẹ" của các ngành sinh học, hóa học và địa chất học. "Tinh gọn là phải hoàn trả hệ giá trị cốt lõi về đúng vị trí của triết lý, chứ không phải chạy theo các thuật ngữ thị trường một cách hời hợt", bà nói.

Nhờ sự đấu tranh mạnh mẽ của những người tâm huyết, bộ môn tài nguyên và môi trường đất được giữ lại, nhưng vẫn ở trong tình trạng "tự sinh, tự trôi". Bộ môn tồn tại cầm chừng do ngành cốt lõi là khoa học đất đã phải ngừng tuyển sinh từ lâu. K61 là khóa tuyển sinh cuối cùng (năm 2016) và được gần 20 sinh viên, nhưng chỉ 6 em "trụ" lại được đến ngày tốt nghiệp.

GS Lê Thanh Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, cho biết ngoài khoa học đất, khoảng chục ngành khoa học cơ bản (vốn có thế mạnh truyền thống) của trường cũng đang đứng ở lằn ranh "tồn tại" và "không tồn tại". Nhiều ngành phải đóng mã (do không tuyển sinh được), nhưng nhà trường vẫn giữ lại đội ngũ giảng viên, duy trì bộ môn, chờ cơ hội để "vực dậy".

Nhà trường phải cân đối nguồn thu từ học phí của các ngành mạnh (toán, lý, hóa, sinh…) để trả lương cơ bản nhằm giữ giảng viên. Có những ngành khi mở lại mã ngành, dù chỉ tuyển sinh được trên dưới 10 sinh viên (trong khi một lớp cần 50 sinh viên mới đủ kinh phí để duy trì), nhà trường vẫn tổ chức giảng dạy. Học phí không đủ chi, nhà trường phải xin nhà nước hỗ trợ.

Kỳ vọng dựng được bức tranh "đẹp và có ích"

Theo GS Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH-CN VN, thực trạng nền khoa học cơ bản hiện nay là hệ quả của một quá trình đầu tư "ngược".

Hàn Quốc và Trung Quốc đều ưu tiên phát triển công nghệ, sau đó là toán học. Còn VN thì từ những năm 1960 đã đầu tư rất mạnh về nhân lực cho nghiên cứu cơ bản, nhưng việc này không đồng bộ với phát triển kỹ thuật công nghệ, khiến cho nghiên cứu cơ bản ở VN thiếu sự kết nối với kỹ thuật công nghệ.

"Nghiên cứu cơ bản ở VN vốn được tạo ra một cách tương đối miễn cưỡng, duy ý chí. Nó đã được xây dựng như một sự chuẩn bị cho sự phát triển của đất nước (sau chiến tranh). Tuy nhiên, vế thứ hai đã không được phát triển đầy đủ. Đội ngũ nghiên cứu cơ bản ở VN vừa tản mạn về nhân lực, vừa thiếu thốn về cơ sở vật chất, vừa thiếu liên hệ với các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ, do các lĩnh vực này cũng chưa phát triển, thậm chí chưa tồn tại ở VN. Dù vậy, nghiên cứu cơ bản ở VN vẫn có những đóng góp âm thầm nhưng quan trọng, là đóng góp vào việc phát triển nhân lực khoa học công nghệ", GS Phùng Hồ Hải phân tích.

Cũng theo GS Phùng Hồ Hải, với kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc họp cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản gần đây, mà quan điểm chủ đạo là xem nghiên cứu cơ bản đứng đầu chuỗi phát triển KH-CN, cho phép giới chuyên gia kỳ vọng vào bức tranh khoa học cơ bản "đẹp và có ích" ở VN thời gian tới.

GS Nguyễn Phùng Quang, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa Hà Nội, cũng ngậm ngùi kể lại một kỷ niệm "không vui": "Từ thập niên 1970 của thế kỷ trước, các chuyên gia ngành tự động hóa VN nói riêng và thế giới nói chung đã bắt đầu nghiên cứu số hóa với kỳ vọng gia tăng số lượng, chất lượng sản phẩm. Sự chín muồi của tự động hóa chính là điều kiện cần của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Khi ấy ở VN cũng có một vài điểm sáng hứa hẹn về kỹ thuật bán dẫn (ví dụ Nhà máy Z181 sản xuất transistor), hay về kỹ thuật điện (ví dụ Nhà máy Động cơ Việt - Hung). Đáng tiếc, sau hơn 40 năm, các điểm sáng đó hoặc đã biến mất khỏi thị trường, hoặc đang tồn tại với những dòng sản phẩm không thể đáp ứng kỳ vọng cao nhất".

Theo GS Nguyễn Phùng Quang, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định "khoa học cơ bản là cơ sở để hình thành công nghệ lõi" đã chạm tới nỗi niềm trăn trở bấy lâu nay của các nhà khoa học ngành tự động hóa VN.

VN bứt phá bằng KH-CN: Hành trình đi tìm giá trị của khoa học cơ bản - Ảnh 2.

Với kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc họp cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản gần đây, mà quan điểm chủ đạo là xem nghiên cứu cơ bản đứng đầu chuỗi phát triển KH-CN, cho phép giới chuyên gia kỳ vọng vào bức tranh khoa học cơ bản "đẹp và có ích" ở VN thời gian tới

ảnh: P.V

Cơ sở để hy vọng

Theo GS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội, nhìn "lịch sử" mảng nghiên cứu phát triển (R&D) của các doanh nghiệp FDI (đầu tư nước ngoài) cũng có thể thấy sự "trỗi dậy âm thầm" của nguồn nhân lực khoa học cơ bản, nhờ sự bền bỉ duy trì mảng này của các trường đại học, viện nghiên cứu.

Đến năm 2000, VN hầu như chưa có một cái chấm nhỏ nào trên bản đồ công nghệ. Thời điểm đó, dù "bùng nổ" doanh nghiệp FDI, nhưng họ chỉ đầu tư vào mảng chế xuất, sử dụng lao động giá rẻ.

Từ năm 2008, VN có chính sách "yêu cầu" các doanh nghiệp phải đầu tư vào R&D (thông qua luật Công nghệ cao). Thoạt tiên, các doanh nghiệp triển khai đầu tư vào R&D trong trạng thái bị áp đặt và làm một cách khiên cưỡng. Doanh nghiệp nào muốn làm thật thì vấn đề nhân lực tại chỗ, đặc biệt là nhân lực được đào tạo bài bản về khoa học cơ bản và có năng lực nghiên cứu ứng dụng là một bài toán nan giải.

Nhưng gần đây bắt đầu có một số doanh nghiệp nổi lên cho việc đầu tư và R&D, thậm chí có đơn vị chỉ đầu tư vào VN mảng R&D chứ không đầu tư chế xuất. Chẳng hạn Samsung khi mới đầu tư vào VN chỉ tập trung mảng chế xuất, sau đó họ tập trung vào R&D (qua Trung tâm SVMC). Ban đầu quy mô bé, nhưng giờ là Trung tâm SRV rất lớn, và Samsung đã nhận được nhiều "lợi ích" từ Trung tâm SRV này. Ngày 4.6, Trung tâm SRV ký kết với Trường ĐH Công nghệ - ĐH Quốc gia Hà Nội biên bản hợp tác đào tạo thạc sĩ, cung cấp nguồn nhân lực cho trung tâm.

Nhiều doanh nghiệp FDI khác (Bosch, LG, Nissan Automatics…) cũng đầu tư vào R&D rất mạnh ở VN. Thậm chí, ở VN đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp chỉ làm R&D rồi bán sản phẩm nghiên cứu và phát triển cho các doanh nghiệp khác. Vừa qua có một doanh nghiệp của Hà Lan đã chuyển toàn bộ mảng R&D và sản xuất từ Philippines sang VN do họ nhận thấy tiềm năng của nguồn nhân lực trình độ cao của VN hứa hẹn hơn. Thậm chí, họ đóng cửa cả R&D ở châu Âu để tập trung toàn bộ các khâu R&D và sản xuất ở VN.

"Trước đây là bị "ép" dành ra một khoản dành cho R&D, nhưng bây giờ doanh nghiệp FDI đã nhìn thấy lợi ích từ R&D. Hơn nữa, họ không còn quá chật vật trong việc giải bài toán nhân lực trình độ cao. Dù vẫn khó khăn, nhưng năng lực đào tạo của các trường ĐH trong nước bước đầu đã đáp ứng được phần nào nhu cầu nguồn lực con người cho nền kinh tế công nghệ cao", GS Chử Đức Trình chia sẻ.

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.