Đây là loại xe tăng bơi nước, rất phù hợp địa hình Việt Nam. Đặc biệt, PT-76 là loại xe đầu tiên của Binh chủng Tăng thiết giáp, được đưa vào chiến đấu trong chiến trường miền Nam, trước cả T-34 và T-54.
Năm 1966, cả tiểu đoàn gồm 22 chiếc xe tăng bơi nước PT-76 mới cứng do Liên Xô viện trợ cho Việt Nam, đã bí mật hành quân từ miền Bắc vào và ém quân gần 2 năm trời ở chân núi An Mã (nay là xã Trường Phú, tỉnh Quảng Trị), chỉ cách căn cứ Cồn Tiên 25 km, nhưng các lực lượng tình báo, biệt kích, trinh sát của Mỹ và Quân lực Việt Nam cộng hòa không hề hay biết.

Xe tăng PT-76 được lắp súng phòng không 12,7mm thực hành huấn luyện bơi nước vượt sông, chuẩn bị vào chiến đấu trong chiến trường miền Nam, năm 1967
ẢNH: BCTTG
"Đi không dấu, nấu không khói"
Giữa năm 1966, trước tình hình quân địch ồ ạt vào tham chiến tại miền Nam, Bộ Quốc phòng lường trước tình huống "đối phương có thể đưa quân đánh chiếm phía bắc vĩ tuyến 17", đã lệnh cho Bộ Tư lệnh Thiết giáp (nay là Binh chủng Tăng thiết giáp) bí mật đưa 1 tiểu đoàn xe tăng "gọn nhẹ, cơ động, nhưng hỏa lực mạnh" vào ém sẵn ở phía bắc sông Bến Hải, nhằm ngăn chặn lục quân đối phương tấn công đặc khu Vĩnh Linh - tiền đồn giới tuyến quân sự tạm thời vĩ tuyến 17 của miền Bắc và sẵn sàng cơ động chiến đấu, chi viện cho chiến trường miền Nam.

Xe tăng bơi nước PT-76 của Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 101 (Vùng 4 Hải quân) thực hành đổ bộ từ tàu vận tải, dẫn bộ binh đột phá, tiêu diệt và đánh chiếm mục tiêu trong diễn tập năm 2024
ẢNH: MAI THANH HẢI
Xe tăng PT-76 là một loại xe tăng hạng nhẹ có khả năng bơi nước, do Liên Xô (cũ) sản xuất, được ra mắt vào đầu thập niên 1950. Xe được sử dụng trong các vai trò trinh sát và hỗ trợ hỏa lực. Khung gầm của xe tăng PT-76 làm cơ sở để thiết kế nhiều xe tăng, thiết giáp lội nước khác.

Xe tăng bơi nước PT-76 của Lữ đoàn Tăng thiết giáp 416 (Quân khu 9) huấn luyện vượt sông
ẢNH: QUANG ĐỨC
PT-76 có khả năng lội nước hoàn toàn với hệ thống đẩy bằng nước để bơi với tốc độ khoảng 10 km/giờ. Trọng lượng xe khoảng 14,6 tấn. Kíp chiến đấu 3 người (lái xe, trưởng xe kiêm pháo thủ, nạp đạn). Giáp rất mỏng (chỗ dày nhất chỉ 20 mm), chỉ chịu được đạn súng bộ binh thông thường và mảnh pháo nhỏ.
PT-76 được trang bị pháo tăng rãnh xoắn 76,2 mm. Vũ khí phụ là trung liên đồng trục SGMT 76,2 mm. Tại Việt Nam, từ năm 1967, các xe tăng PT-76 tham gia chiến đấu được lắp thêm súng máy phòng không 12,7 mm.
Đại tá Bùi Văn Tùng (nguyên Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203) kể: "Đầu năm 1966, cấp trên giao cho chúng tôi huấn luyện 1 khung cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn xe tăng. Điểm đến thì chung chung 'chiến trường miền Nam', nhưng bộ đội phải luyện tập rất kỹ các khoa mục hành quân mang vác nặng và kỹ thuật đặc công".

Lãnh đạo Đảng - Nhà nước kiểm tra một số vũ khí, khí tài của Binh chủng Tăng thiết giáp, tháng 11.1971 (bên phải là chiếc tăng bơi nước PT-76)
ẢNH: BCTTG
Giữa năm 1966, nhiệm vụ bí mật này mới được phổ biến cho đại úy Lê Ngọ (tiểu đoàn trưởng) và đại úy Bùi Văn Tùng (chính trị viên): "Thành lập Tiểu đoàn xe tăng 177, trên cơ sở Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn xe tăng 202 (nay là Lữ đoàn xe tăng 202) với 22 xe tăng PT-76. Khẩn trương hành quân vào phía bắc vĩ tuyến 17".
"Cấp trên lưu ý: hành quân và trú quân phải tuyệt đối giữ bí mật. Đây là việc hết sức khó khăn, khiến chỉ huy chúng tôi cực đau đầu. Mấy cái xe đạp đi đến đâu người ta còn biết, nữa là 22 chiếc xe tăng đi 700 cây số từ Vĩnh Yên, Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ) vào tận tuyến lửa Vĩnh Linh", đại tá Bùi Văn Tùng kể vậy.

Xe tăng bơi nước PT-76 có thể leo đồi dốc với độ nghiêng 38 độ
ẢNH: LAM GIANG
Biên niên sử ngành kỹ thuật Tăng thiết giáp ghi lại: "Quá trình hành quân vào Vĩnh Linh, 22 xe tăng bơi nước PT-76 của Tiểu đoàn 177 phải vượt qua 10 con sông. Trước khi vượt sông, đơn vị đã cử cán bộ đi trinh sát bến lên - xuống, tốc độ nước chảy, làm kế hoạch đảm bảo kỹ thuật khi vượt sông… Ở sông Cầu Yên, có 4 xe bị trôi. Ở 3 sông khác, mỗi sông có 1 xe bị trôi. Ở cửa sông Gianh, xe bơi vào lúc thủy triều xuống nên có xe bị trôi xa 1 km. Các xe bị trôi phần lớn do lái xe mở cửa phản lực chậm hoặc khi mở cửa bị kẹt. Những xe bị kẹt cửa phản lực hoặc không nổ máy được phải đưa xe khác ra kéo.
Để tránh sự phát hiện của máy bay địch, xe tăng phải hành quân ban đêm. Các xe đều có đèn tia hồng ngoại nhưng không sử dụng được vì đường hẹp, chỗ vòng nhiều, không nhìn rõ đường, trình độ sử dụng đèn để lái đêm của lái xe yếu.
Trong quá trình hành quân, đơn vị để xảy ra 2 vụ đổ xe (ở phía nam thị trấn Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh và nam sông Gianh, Quảng Bình)"...

Xe tăng bơi nước PT-76 phối thuộc với bộ binh tấn công chiếm lĩnh mục tiêu
ẢNH: BCTTG
Ngày 22.8.1966, toàn bộ 22 chiếc xe tăng bơi nước PT-76 được đưa lên tàu hỏa từ ga Vĩnh Yên. Đến ga Cát Đằng (Ninh Bình) thì xuống, hành quân bằng xích theo quốc lộ 1 đến Tân Kỳ (Nghệ An). Sau 1 tháng ở Tân Kỳ để củng cố, bảo dưỡng kỹ thuật, đội hình tiếp tục hành quân theo đường quân sự 15 mới làm gấp, tập kết tại Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh) ngày 22.10.1966.
Bộ đội xe tăng không được mặc… quân phục
Đại tá Bùi Văn Tùng kể: "Vị trí giấu quân ban đầu do cấp trên chỉ định nằm cạnh đường vào Quảng Trị, nên máy bay địch tập trung bắn phá. Tôi và anh Lê Ngọ quyết định đi tìm nơi giấu quân an toàn hơn, vừa bảo đảm triển khai đội hình chiến đấu, lại vừa đảm bảo được sinh hoạt, học tập bình thường cho bộ đội.
Sau vài tháng, chúng tôi tìm thấy một khu vực thuộc vùng đồng bằng nam Quảng Bình và tây Vĩnh Linh có địa hình trống trải, ít khi máy bay địch nhòm ngó tới. Chúng tôi quyết định đưa xe tăng xuống đây, vừa bất ngờ vừa an toàn".

Xe tăng bơi nước PT-76 số hiệu 555 đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
ẢNH: MAI THANH HẢI
Các cựu binh tiểu đoàn xe tăng 177 kể lại kinh nghiệm giấu quân ở Vĩnh Linh cuối năm 1966: các xe tăng phải bố trí phân tán trên địa bàn rộng. Bộ đội đào hầm cho xe xuống sâu mặt đất, trên nóc hầm lợp mái tranh lụp xụp như nhà dân. Trong hầm, dưới bụng xe tăng là căn hầm nhỏ làm nơi ở cho cả kíp xe.

Trung đội xe tăng PT-76 của Lữ đoàn Tăng thiết giáp 206 (Quân khu 4) huấn luyện vượt sông
ẢNH: LAM GIANG
Khó khăn nhất phải xóa vết xích của xe tăng và… phi tang số đất mới đào hầm, sao cho máy bay địch không phát hiện và người dân đi ngang qua không nghi ngờ.
"Sau khi xe tăng xuống hầm, phải kéo cành cây lớn để xóa hết các vết xích dù còn rất mờ. Việc ngụy trang xe phải thật cẩn thận. Để việc tăng số nhà hầm xe tăng ở vùng dân cư không thành đột xuất, chúng tôi phải mất 3 - 4 tháng mới hoàn tất việc bố trí đội hình xe tăng mai phục ở đồng bằng", đại tá Bùi Văn Tùng nhớ lại vậy.
Đại tá Bùi Văn Tùng cho biết thêm: "Công tác giữ bí mật được đặt lên hàng đầu, chính vì vậy trong suốt chặng đường hơn 700 km hành quân, mặc dù máy bay địch oanh tạc khắp nơi, nhưng không phát hiện thấy xe tăng ta và đơn vị tập kết an toàn 100%".
Tiểu đoàn xe tăng 177 chia tách từ năm 1968 - 1969
Giữa tháng 3.1968, toàn bộ 11 xe tăng PT-76 của Đại đội 16, Tiểu đoàn 177 được lệnh tăng cường từ Vĩnh Linh vào mặt trận B3 (Tây nguyên).
Sau 37 ngày hành quân, ngày 18.4.1968, đơn vị đã đến nơi tập kết. Quãng đường hơn 800 km hành quân, có đến 80% xe tăng bị hỏng xích, phải bảo dưỡng, sửa chữa.

Đảm bảo kỹ thuật cho xe tăng bơi nước PT-76 tại Lữ đoàn Hải quân đánh bộ 147 (Vùng 1 Hải quân)
ẢNH: VŨ HƯỞNG
Với Đại đội PT-76 còn lại (Đại đội 18, Tiểu đoàn 177), giữa tháng 12.1969 cũng được tăng cường cho mặt trận Cánh đồng Chum (Lào) và lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 195A. Từ giữa tháng 12.1969 đến đầu tháng 2.1970, đơn vị đã cơ động từ Vĩnh Linh (Quảng Trị) sang Bản Ban (Savannakhet, Lào). Quá trình hành quân, xích xe bị hỏng 80%, bánh chịu nặng hỏng 50%... nhưng đại đội đã khắc phục các khó khăn về công tác kỹ thuật (như cắt xích bằng thuốc nổ khi xích quá căng không tháo được, dùng xe Zil kéo xe PT-76 khi bình điện yếu không nổ được máy…) và tập kết đúng kế hoạch với 10/11 xe PT-76, sẵn sàng chi viện mặt trận.
Đặc biệt, trong suốt thời gian trú quân ở phía bắc sông Bến Hải, mặc dù ở ngay vùng chiến tranh phá hoại cường độ cao, nhưng đối phương không hề biết đến sự có mặt của cả tiểu đoàn gồm 22 chiếc xe tăng PT-76 mới tinh. Thậm chí, đơn vị xây dựng bãi tập thực hành cho xe tăng ở chân núi An Mã và thường xuyên luyện tập các phương án chiến đấu, nhưng tình báo của đối phương cũng không biết.

Xe tăng bơi nước PT-76 của Bộ Chỉ huy Quân sự TP.Huế
ẢNH: QK4
"Để giữ bí mật, bộ đội Tiểu đoàn 177 xe tăng không được diện quân phục, phải mang mặc dân sự như người dân địa phương", đại tá Bùi Văn Tùng kể vậy. (còn tiếp)
Mừng hụt vì tưởng được nhận PT-76
8 tháng sau khi xe tăng T-34 về Việt Nam, cuối tháng 3.1961, chỉ huy Trung đoàn xe tăng 202 (nay là Lữ đoàn xe tăng 202, thuộc Binh chủng Tăng thiết giáp) được quán triệt: "Nhận 44 xe tăng bơi nước PT-76 và đón 2 chuyên gia Liên Xô sang giảng dạy về khí tài mới". Ai cũng mừng húm vì nghĩ sẽ được nhận xe tăng hiện đại hơn T-34.

Xe tăng bơi nước PT-76 của Lữ đoàn Tăng thiết giáp 206 (Quân khu 4) chuẩn bị hành quân
ẢNH: BÁO QĐND
Nhưng khi tìm hiểu, mới ngớ người: Liên Xô viện trợ xe tăng bơi nước PT-76 cho nước bạn Lào; chuyên gia Liên Xô giảng dạy cho cán bộ ta và sau đó ta mang xe từ Việt Nam sang bàn giao, đồng thời huấn luyện kỹ cho bạn…
Năm 1961, quân đội ta có xe tăng T-34 sản xuất từ thế chiến thứ 2, cũ nặng khó đi ngầm dưới nước. Trong khi đó, xe tăng PT-76 mới, hiện đại và là xe tăng hạng nhẹ lội nước, thiết kế chuyên biệt cho nhiệm vụ trinh sát, hỗ trợ bộ binh vượt sông và tác chiến ở những địa hình sình lầy, sông ngòi… rất phù hợp với ta.

Phân đội PT-76 vượt sông
ẢNH: QUANG ĐỨC
Từ cuối năm 1961 đến giữa năm 1962, Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 202 đã đưa 38 xe PT-76 từ Việt Nam sang Lào, bàn giao và huấn luyện cho quân đội bạn.
Ngày 29.2.1962, Liên Xô chính thức trang bị cho ta 19 xe tăng bơi nước PT-76. Cuối năm 1963, thêm 31 xe tăng PT-76 được Liên Xô cung cấp cho Việt Nam.
Ban đầu, hơn 50 xe tăng PT-76 được biên chế ở Trung đoàn 202. Giữa năm 1965, khi Bộ Quốc phòng thành lập trung đoàn xe tăng thứ 2 mang phiên hiệu 203, một số xe tăng PT-76 được chuyển sang và thành lập riêng 1 tiểu đoàn PT-76.
Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, nguyên Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp











Bình luận (0)