Viết trên mạng xã hội vào khuya 21.2 (theo giờ VN), Tổng thống Trump tuyên bố sẽ tăng mức thuế tạm thời đối với hàng nhập khẩu từ các quốc gia vào Mỹ từ 10% lên 15%.

Tổng thống Trump trong lần công bố một sắc lệnh hành pháp về tăng thuế hồi tháng 2.2025 tại Nhà Trắng
Ảnh: Reuters
Từ thiệt - hơn cho các nước
Thông báo trên được đưa ra sau khi Tòa án Tối cao Mỹ ngày 20.2 ra phán quyết với tỷ lệ 6-3, cho rằng Đạo luật Quyền hạn kinh tế khẩn cấp quốc tế (IEEPA) "không trao quyền cho Tổng thống áp đặt thuế quan". Theo đó, việc áp dụng thuế quan này cần được thông qua bởi Quốc hội Mỹ.
Giữa tình hình hiện tại, ngay cả khi Washington tạm áp thuế mức 15% đối với hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ thì vẫn có tác động tích cực đến các nền kinh tế xuất khẩu ở Đông Nam Á. Bởi trước đó, phần lớn các nền kinh tế Đông Nam Á phải chịu mức thuế hơn 15% khi Nhà Trắng áp dụng IEEPA như: 40% đối với Lào và Myanmar, 20% đối với VN, 19% đối với Philippines, Malaysia, Campuchia, Indonesia và Thái Lan…
Bên cạnh đó, một vấn đề đang được quan tâm là liệu các thỏa thuận thương mại, mà các nền kinh tế khác đạt được khi đàm phán vấn đề thuế với Washington, có còn hiệu lực và giá trị thực thi như thế nào sau phán quyết của Tòa tối cao Mỹ. Trong số này, nổi bật có các thỏa thuận đầu tư lên đến hàng trăm tỉ USD của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan cam kết với Washington. Vốn dĩ, việc thực thi các thỏa thuận này cũng đang đối mặt với nhiều câu hỏi về tính khả thi.
Ông Trump tuyên bố sẽ tăng thuế suất toàn cầu từ 10% lên 15%
Đến tương lai khó lường
Tuy nhiên, phần lớn các vấn đề vừa nêu chỉ mang tính tạm thời, bởi phán quyết từ Tòa tối cao Mỹ khó có thể ngăn cản nỗ lực của Tổng thống Trump trong việc theo đuổi chính sách thuế. Vì thực tế, vị chủ nhân Nhà Trắng còn ít nhất 5 biện pháp khác.
Trước mắt, việc ông Trump áp dụng 15% thuế được áp dụng theo Điều khoản 122 của Đạo luật Thương mại năm 1974. Chưa từng được áp dụng kể từ khi ra đời, điều khoản này cho phép tổng thống áp đặt thuế quan nếu sự gia tăng nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất Mỹ. Không cần phải tiến hành các cuộc điều tra nhằm vào đối tượng mục tiêu hay sự thông qua của Quốc hội, Điều khoản 122 cho phép Tổng thống toàn quyền áp dụng thuế suất tối đa là 15% và trong thời hạn tối đa là 150 ngày (nếu mở rộng thêm thì cần Quốc hội thông qua).
Thứ hai là Điều khoản 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962 trao cho tổng thống quyền sử dụng thuế quan để điều chỉnh việc nhập khẩu hàng hóa vì lý do an ninh quốc gia. Điều khoản này không bị giới hạn cả về mức thuế suất lẫn thời gian áp dụng. Tuy nhiên, việc áp dụng điều khoản này chỉ được tiến hành sau khi Bộ Thương mại Mỹ tiến hành điều tra và xác định các sản phẩm mục tiêu nếu được nhập khẩu thì có nguy cơ làm suy yếu an ninh quốc gia. Điều khoản 232 được xây dựng để áp dụng cho hàng nhập khẩu trong các lĩnh vực riêng lẻ, thay vì từ toàn bộ các quốc gia.
Thứ ba, Điều khoản 201 của Đạo luật Thương mại năm 1974 cho phép tổng thống áp đặt thuế quan nếu sự gia tăng nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất Mỹ. Điều khoản cho phép áp dụng mức thuế quan tối đa là 50% trong thời hạn lên đến 4 năm (có thể mở rộng lên 8 năm). Tuy nhiên, để áp dụng điều khoản này, Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ (ITC) phải có đơn kiến nghị, tiến hành cuộc điều tra nhằm vào loại hàng hóa mục tiêu. ITC cũng phải tổ chức các phiên điều trần công khai và thu thập ý kiến của công chúng. Trước đây, Tổng thống Trump đã áp dụng Điều khoản 201 để áp thuế đối với pin mặt trời và mô-đun nhập khẩu, cũng như máy giặt dân dụng vào năm 2018.
Thứ tư là Điều khoản 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 cho phép Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR), dưới sự chỉ đạo của tổng thống, áp đặt thuế quan để đáp trả các biện pháp thương mại của các nền kinh tế khác mà họ cho là phân biệt đối xử với các doanh nghiệp Mỹ hoặc vi phạm các quyền của Mỹ theo các hiệp định thương mại quốc tế. Tuy có ưu điểm không bị hạn chế về thuế suất tối đa lẫn thời gian áp dụng, nhưng Điều khoản 301 cần có thời gian để USTR tiến hành điều tra và khó áp dụng cùng lúc diện rộng cho nhiều nền kinh tế khác với cùng một vấn đề. Năm 2018, cũng dưới thời ông Trump, Mỹ lần đầu áp dụng điều khoản này để áp thuế đối với hàng trăm tỉ USD hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sau một cuộc điều tra về các chính sách của Trung Quốc về chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ và đổi mới.
Thứ năm là Điều khoản 338 của Đạo luật Thuế quan Smoot-Hawley năm 1930. Ra đời vào thời kỳ kinh tế suy thoái, điều khoản này cho phép Tổng thống Mỹ áp thuế đối với hàng nhập khẩu từ các các nền kinh tế bất cứ khi nào tổng thống cho rằng các nền kinh tế mục tiêu đã áp đặt các khoản phí hoặc giới hạn vô lý, hoặc tham gia vào hành vi phân biệt đối xử chống lại thương mại Mỹ. Bị giới hạn mức thuế suất tối đa 50% nhưng điều khoản này không bị hạn chế về thời gian áp dụng.
Thực tế, ngay từ khi Tổng thống Trump nhậm chức nhiệm kỳ 2, nhiều nghị sĩ đảng Dân chủ đã lo ngại ông Trump sẽ áp dụng điều khoản này để thực thi chính sách thuế. Vì thế, từ tháng 3.2025, có đến 5 Hạ nghị sĩ thuộc phe Dân chủ đã tiến hành theo đuổi một nghị quyết để bãi bỏ Điều khoản 338 ra khỏi Đạo luật Thuế quan Smoot-Hawley năm 1930.
Từ các thực tế trên, chính sách thuế của Mỹ dưới thời Tổng thống Trump tiếp tục ẩn chứa nhiều diễn biến khó lường.
Bình luận (0)