Bình đẳng từ dữ liệu đề thi

LS Hoàng Hà
(Đoàn LS TP.HCM)
Điều đáng bàn sau tranh cãi về câu hỏi "Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam" trong đề ngữ văn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 không phải là học sinh vùng sâu vùng xa có biết Steve Jobs hay không, mà là một đề thi chung có thật sự tạo ra cơ hội ngang nhau cho những học sinh có xuất phát điểm rất khác nhau hay không.

Quyền bình đẳng trong giáo dục không thể chỉ được hiểu là mọi thí sinh (TS) nhận cùng một đề thi. Cái cần hướng tới là bình đẳng thực chất, tức học sinh (HS) ở những điều kiện sống khác nhau vẫn có cơ hội hợp lý để chứng minh năng lực.

Từ góc độ chính sách công, kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện nay đang gánh hai chức năng cùng lúc: nhằm đánh giá kết quả học tập, xét công nhận tốt nghiệp, đánh giá chất lượng dạy học, đồng thời cung cấp dữ liệu để các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp sử dụng trong tuyển sinh.

Chính việc gộp nhiều mục tiêu vào một kỳ thi làm phát sinh căng thẳng. Xét tốt nghiệp là kiểm tra cái sàn, tức chuẩn tối thiểu mà mọi HS phổ thông cần đạt. Tuyển sinh đại học lại là cơ chế xếp hạng, cần phân hóa TS, nhất là ở nhóm điểm cao. Khi một đề thi vừa là sàn, vừa là phễu, nó buộc phải vừa đủ phổ thông để không loại oan người học bình thường, vừa đủ sắc để chọn người nổi trội. Mâu thuẫn bình đẳng bắt đầu từ đó.

Đề ngữ văn năm 2026 là một ví dụ rõ. Bộ GD-ĐT giải thích câu hỏi về "Steve Jobs Việt Nam" đã được cân nhắc tính vùng miền, là câu hỏi phân hóa và không yêu cầu TS hiểu biết sâu về nhân vật. Lập luận này có phần hợp lý. Đề đã đặt Steve Jobs cùng các nhân vật công nghệ khác trong gợi dẫn, nên TS có thể hiểu đây là hình ảnh ẩn dụ cho người sáng tạo, người đổi mới, người có khả năng tạo ra giá trị lớn cho xã hội. Câu hỏi cũng chỉ chiếm một phần điểm trong bài thi.

Nhưng làm được bài và có cơ hội làm bài thật tốt là hai chuyện khác nhau. Một HS ở đô thị lớn, thường xuyên tiếp xúc với internet, truyền thông công nghệ, sách kỹ năng và những thảo luận về khởi nghiệp sẽ đọc cụm "Steve Jobs Việt Nam" với rất nhiều tầng nghĩa. Một HS ít điều kiện tiếp cận những không gian ấy vẫn có thể hiểu câu hỏi theo nghĩa chung nhưng phải trả thêm một chi phí nhận thức để giải mã biểu tượng. Trong phòng thi, chi phí ấy không vô hình. Nó có thể trở thành khoảng cách điểm số.

Đây mới là cơ chế bất bình đẳng đáng chú ý. Chỉ cần chọn một biểu tượng có tính đô thị, toàn cầu hóa và đặt nó vào tầng câu hỏi dùng để phân hóa, lợi thế đã có thể dịch chuyển về phía nhóm HS sở hữu vốn văn hóa phù hợp. Sự thiên lệch không nằm ở cửa vào, vì nhiều em vẫn viết được. Nó nằm ở cửa điểm cao, nơi đề thưởng cho khả năng nói trôi chảy bằng ngôn ngữ của thế giới công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Một ngữ liệu ngoài sách giáo khoa vẫn có thể công bằng nếu nó đủ tự thân. Nghĩa là HS chưa từng biết nhân vật, sự kiện hoặc biểu tượng được nêu vẫn có đủ dữ kiện trong đề để hiểu vấn đề và lập luận. Ngược lại một đề mà nếu muốn viết sâu, viết hay, viết khác biệt HS phải có sẵn vốn đọc, vốn internet, vốn trải nghiệm ngoài đề thì khi đó đề đã không còn chỉ kiểm tra năng lực được nhà trường rèn luyện. Nó bắt đầu thưởng điểm cho điều kiện xã hội đi kèm với mỗi HS.

Do đó, vấn đề đặt ra là trước khi dùng một ngữ liệu ngoài sách giáo khoa trong đề thi quốc gia, cơ quan ra đề đã thẩm định độ thiên lệch tiếp cận của nó ra sao. Đáp án có thật sự mở không. Rubric (thang đánh giá tiêu chí) chấm có bảo đảm HS không bị bất lợi chỉ vì không khai thác sâu tiểu sử nhân vật hay không.

Vì vậy, cần bổ sung một bước thẩm định công bằng tiếp cận trong quy trình ra đề. Hội đồng phản biện đề nên có giáo viên đến từ trường nông thôn, trường vùng khó khăn... Họ cần được yêu cầu đánh giá chi phí giải mã của ngữ liệu đối với HS ngoài trung tâm đô thị. Với các câu hỏi phân hóa, rubric phải ghi rõ rằng TS có thể đồng tình, phát triển hoặc phản biện lại gợi dẫn nếu lập luận chặt chẽ. Sau kỳ thi, Bộ nên công bố phổ điểm theo tỉnh, vùng, loại hình trường và có phân tích riêng với các câu phân hóa.

Một nền giáo dục công bằng không phải là làm cho mọi đề thi đều dễ và quen thuộc, cũng không phải là xóa bỏ phân hóa mà phân hóa theo năng lực tư duy, không phải theo vốn sống mà xã hội đã phân phối không đều trước khi HS bước vào phòng thi. 

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.