Cấp thiết đáp ứng nhu cầu điện tăng mạnh

Nguyên Nga
Nguyên Nga

Nắng nóng kéo dài cùng đà tăng trưởng mạnh của kinh tế khiến nhu cầu điện tăng nhanh, tạo áp lực lớn lên vận hành hệ thống điện. Nhu cầu hiện nay không chỉ là sản lượng mà còn là chất lượng nguồn điện.

Đòi hỏi tăng cả lượng và chất

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống trong 6 tháng đầu năm đạt 171,54 tỉ kWh, tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 6, sản lượng đạt 32,6 tỉ kWh, tăng tới 14,25%. Đặc biệt, trong đợt nắng nóng từ ngày 22 - 25.6 vừa qua, hệ thống điện quốc gia ghi nhận mức tiêu thụ cao chưa từng có, với sản lượng điện ngày đạt 1.215,4 triệu kWh (ngày 25.6) và công suất cực đại đạt 57.537 MW (ngày 24.6). Để đáp ứng nhu cầu phụ tải tăng đột biến, Công ty TNHH MTV vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) đã phải huy động tối đa các nguồn điện hiện có, trong đó có các tổ máy nhiệt điện chạy dầu và chuyển đổi nhiên liệu từ khí sang dầu diesel đối với một số tổ máy tuabin khí nhằm tăng công suất khả dụng của hệ thống.

EVN nhận định mức tăng phụ tải năm nay không chỉ do thời tiết mà còn phản ánh đà tăng trưởng kinh tế. Nhiều khu công nghiệp, trung tâm sản xuất điện tử, bán dẫn, logistics, trung tâm dữ liệu (data center) và các dự án công nghệ cao đi vào hoạt động hoặc mở rộng quy mô, kéo theo nhu cầu điện tăng nhanh. Điển hình là các trung tâm dữ liệu và AI của CMC, Viettel IDC, FPT tại TP.HCM; các dự án điện tử tại Bắc Ninh, Hải Phòng, TP.HCM (khu vực Bình Dương cũ); cùng việc mở rộng sản xuất của Samsung, LG, Amkor, Foxconn. Ngoài ra, các dự án lớn như Cảng hàng không quốc tế Long Thành và nhiều khu công nghiệp mới tại Tây Ninh (khu vực Long An cũ), Quảng Ninh cũng sẽ tiếp tục làm gia tăng phụ tải điện trong những năm tới.

Cấp thiết đáp ứng nhu cầu điện tăng mạnh - Ảnh 1.

Phát triển điện mặt trời kết hợp pin lưu trữ (BESS) giúp giảm áp lực cung ứng điện

Ảnh: nhật thịnh

Không chỉ nhu cầu điện tăng mà chất lượng nguồn điện trong bối cảnh phát triển mới phải ổn định. Chẳng hạn, hệ thống điện tại TP.HCM - đầu tàu kinh tế của cả nước có thể đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn đầu khoảng 200 MW cho các trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo (AI Data Center) trong khi công suất cực đại hệ thống đã xấp xỉ 10.000 MW. Ông Bùi Trung Kiên, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), cho biết thành phố có thể đáp ứng khoảng 200 MW cho các trung tâm dữ liệu trong giai đoạn đầu. Tuy nhiên, khi nhu cầu tăng lên trên 1.000 MW, hệ thống sẽ phải được đầu tư đồng bộ hơn về lưới điện, trạm biến áp và nguồn dự phòng để bảo đảm vận hành liên tục.

"Điện sinh hoạt, sản xuất truyền thống khác rất nhiều so với nguồn điện cung cấp cho các trung tâm dữ liệu. Chỉ một vài giây mất điện hoặc dao động điện áp cũng có thể gây thiệt hại rất lớn, làm gián đoạn các dịch vụ. Thế nên nguồn điện có độ tin cậy tuyệt đối, an toàn là "điều kiện đủ" để thu hút những đại bàng công nghệ thế giới. Muốn có hệ thống điện ổn định, không chỉ ngành điện mà cả chính quyền địa phương, doanh nghiệp đầu tư và các cơ quan quản lý đều phải phối hợp trong quy hoạch, giải phóng mặt bằng, đầu tư lưới truyền tải và phát triển các nguồn điện dự phòng", ông Bùi Trung Kiên chia sẻ và nhấn mạnh thêm việc đảm bảo ổn định cung cấp điện cũng một phần vai trò từ phía khách hàng. Ngành điện cần có sự hỗ trợ tiết kiệm điện từ người dùng, đưa ra các giải pháp chuyển dịch phụ tải vào giờ cao điểm, cũng như lắp đặt hệ thống điện mặt trời kết hợp lưu trữ...

Tăng nguồn và tính linh hoạt của hệ thống

Chuyên gia năng lượng, TS Nguyễn Huy Hoạch - thành viên Hội đồng khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam - nhận định, thách thức của ngành điện không còn đơn thuần là xây thêm nguồn phát mà là xây dựng một hệ thống điện có độ linh hoạt và khả năng chống chịu cao. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh, hiện tượng El Nino có thể vừa làm tăng phụ tải do nắng nóng, vừa làm giảm khả năng phát điện của các hồ thủy điện, khiến dự phòng công suất bị thu hẹp. Vì vậy, ngoài việc phát triển các nguồn điện mới, Việt Nam cần đầu tư đồng bộ lưới truyền tải, hệ thống lưu trữ năng lượng, tăng khả năng điều độ linh hoạt và duy trì mức dự phòng công suất phù hợp để ứng phó các biến động của khí hậu và nhu cầu phụ tải trong tương lai.

Cấp thiết đáp ứng nhu cầu điện tăng mạnh - Ảnh 2.

Hệ thống BESS được lắp cho nhà máy may mặc ở Gia Lai (khu vực Bình Định cũ)

Ảnh: VINASOL SOLAR

Do vậy, giải pháp trước mắt là khai thác tối đa hiệu quả các nguồn điện hiện có, bảo đảm đủ nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện than và khí, vận hành hợp lý các hồ thủy điện, đồng thời đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn và lưới điện trọng điểm để sớm bổ sung công suất cho hệ thống. Bên cạnh tăng nguồn cung, TS Nguyễn Huy Hoạch khuyến nghị cần coi quản lý nhu cầu điện là một "nguồn điện ảo". Theo đó, việc mở rộng các chương trình điều chỉnh phụ tải, áp dụng giá điện theo thời gian sử dụng, khuyến khích doanh nghiệp dịch chuyển sản xuất khỏi giờ cao điểm và sử dụng điện tiết kiệm sẽ giúp giảm đáng kể áp lực lên hệ thống mà không phải đầu tư ngay các nhà máy điện mới. Đây là giải pháp nhiều quốc gia đã áp dụng hiệu quả trong bối cảnh phụ tải tăng nhanh.

Trong dài hạn, chuyên gia này gợi ý Việt Nam cần chuyển từ tư duy phát triển đơn thuần về công suất nguồn sang xây dựng hệ thống điện linh hoạt, hiện đại và có khả năng chống chịu cao. "Điều này đòi hỏi phát triển đồng bộ nguồn điện, lưới truyền tải và hệ thống lưu trữ năng lượng; đẩy nhanh đầu tư các dự án truyền tải 500 kV để giải tỏa công suất các nguồn điện mới; đồng thời phát triển lưới điện thông minh nhằm nâng cao khả năng điều độ và vận hành hệ thống. Bên cạnh đó, quá trình điện hóa nền kinh tế với sự phát triển của xe điện, trung tâm dữ liệu, AI và công nghiệp bán dẫn sẽ làm thay đổi cơ cấu phụ tải, khiến yêu cầu về chất lượng và độ ổn định của nguồn điện ngày càng cao. Vì vậy, ngoài việc phát triển các nguồn điện truyền thống, Việt Nam cần tạo điều kiện để năng lượng tái tạo và hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) tham gia sâu hơn vào thị trường điện, góp phần tăng tính linh hoạt cho hệ thống và bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn", TS Nguyễn Huy Hoạch nhấn mạnh.

Theo tính toán của NSMO, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống trong 6 tháng cuối năm nay có thể đạt 187,5 tỉ kWh (tăng 12,3% so cùng kỳ 2025) và dự kiến cả năm là 358,6 tỉ kWh, tăng hơn 11% so năm ngoái. Đối với khu vực miền Bắc, nơi luôn có tốc độ tăng trưởng phụ tải cao nhất cả nước, trong tháng 7 và 8 tới, công suất cực đại có thể đạt 30.550 - 31.550 MW, tăng khoảng 16,8% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đánh giá về tình hình cung ứng điện, Tổng giám đốc EVN Nguyễn Anh Tuấn cho biết mặc dù nắng nóng xuất hiện sớm và nhu cầu điện tăng cao, ngành điện vẫn bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội và các sự kiện quan trọng của đất nước. EVN cùng NSMO đã chủ động xây dựng nhiều kịch bản vận hành, huy động linh hoạt các nguồn điện và chuẩn bị đầy đủ phương án ứng phó để đáp ứng các mức phụ tải kỷ lục trong mùa khô năm nay. Đặc biệt, tập đoàn đang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn và lưới điện trọng điểm nhằm bổ sung nguồn cung cho hệ thống. Trong đó, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I đã hoàn thành hơn 99% khối lượng, tổ máy số 1 đã hòa lưới phát điện; đồng thời nhiều dự án truyền tải 220 - 500 kV đang được gấp rút hoàn thành để nâng cao khả năng giải tỏa công suất và bảo đảm cung ứng điện trong bối cảnh nhu cầu tiếp tục tăng mạnh.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.