Với người mẹ ấy, giữ bản sắc Việt cho con không phải bắt chúng sống giống cha mẹ, mà giúp chúng hiểu mình từ đâu mà đến. Những khoảnh khắc như thế khiến chị nhận ra: có những điều thuộc về gia đình, văn hóa và cội nguồn không nhất thiết phải truyền cho con bằng những bài học lớn. Đôi khi, chúng bắt đầu từ căn bếp Việt.
Tôi gặp Nguyễn Thị Minh ở Wellington tháng 3.2024, khi chị là một trong những kiều bào tham dự cuộc gặp với Thủ tướng Phạm Minh Chính trong chuyến thăm chính thức New Zealand.
Hôm ấy, sau khi bày tỏ mong muốn thành lập hội phụ nữ Việt Nam tại New Zealand, chị Minh bất ngờ hỏi Thủ tướng: để đi đến vị trí hôm nay, ông đã trải qua những khó khăn như thế nào?
Thủ tướng Phạm Minh Chính xúc động kể về tuổi thơ trong một gia đình nghèo, đông con và nguyên tắc sống của mình: khi được giao việc thì cố gắng hoàn thành, thấy điều gì tốt cho cái chung thì cố mà làm.

Gia đình chị Nguyễn Thị Minh đón Tết Nguyên đán 2024 cùng cộng đồng người Việt tại New Zealand
ẢNH: NVCC
Sau cuộc gặp, tôi hỏi chị Minh tại sao giữa rất nhiều vấn đề của cộng đồng người Việt, chị lại chọn một câu hỏi riêng tư như vậy.
"Chúng ta không lựa chọn được nơi mình sinh ra, không lựa chọn cha mẹ của mình, nhưng chúng ta có thể lựa chọn được thái độ sống. Tôi muốn nghe những khó khăn mà Thủ tướng đã trải qua để có thêm một câu chuyện truyền cảm hứng sống tích cực cho mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ", chị giải thích.
Từ câu hỏi ấy, câu chuyện của chúng tôi với chị kéo dài sang cuộc sống, gia đình và hành trình hơn 20 năm giữa Việt Nam và New Zealand.
Cô gái Nguyễn Thị Minh, quê Vĩnh Phúc (nay là Phú Thọ) sang New Zealand năm 2003, khi 26 tuổi. Ngày sang New Zealand, trong túi Minh có đúng 100 USD chị gái đưa để cầm đi đường. Những ngày đầu, chị làm việc tại một cửa hàng. Tiếng Anh chưa tốt, có lúc khách nói, chị phải vừa nghe vừa đoán ý.
Rồi Minh lập gia đình. Henry và Bella lần lượt ra đời. Từ đó, bên cạnh bố mẹ, anh chị em ở Việt Nam, chị bắt đầu gây dựng một mái nhà mới ở New Zealand. Và một câu hỏi cũng xuất hiện: những đứa trẻ sinh ra tại đây sẽ lớn lên thế nào để hòa nhập với xã hội nơi chúng sống mà không trở thành người xa lạ với quê hương của bố mẹ?

Con trai lớn Henry về quê gói bánh chưng, đón tết cùng bà ngoại năm 2023
ẢNH: NVCC
SỰ TIẾP NỐI BẮT ĐẦU TỪ CĂN BẾP
Henry và Bella có tuổi thơ như những đứa trẻ New Zealand khác. Chúng học trường bản địa, chơi thể thao, bơi, bóng rổ, bóng chuyền, học đàn, múa và tham gia các hoạt động cùng bạn bè.
Nhưng khi trở về nhà, chúng sống trong những nhịp sinh hoạt mà người mẹ mang theo từ Việt Nam. Chị Minh đi chợ thường đưa hai con theo. Về nhà, mẹ nhặt rau, con nhặt cùng; mẹ cuốn nem, con ngồi bên; rửa bát, tưới cây, hút bụi…, việc nào phù hợp, Henry và Bella đều có phần.
Từ 3 tuổi, hai con được dạy gấp quần áo, tự sắp xếp đồ dùng. Khoảng 5 tuổi, mỗi chuyến đi xa, Henry và Bella tự đóng vali. Chị Minh không mở ra xếp lại theo ý mình mà chỉ hỏi: "Con có cần thêm áo ấm không?", "Mang chừng ấy tất có đủ không?", rồi để con tự quyết định.

Mâm cơm giỗ ông ngoại được mẹ con chị Minh làm tại nhà ở New Zealand
ẢNH: NVCC
Đến tuổi thiếu niên, hai anh em thay nhau rửa bát, dọn nhà và vào bếp. Những món chúng học nấu cũng chính là những món đã ăn từ nhỏ trong gia đình.
Chị Minh không chủ ý biến những việc ấy thành một "bài học giữ văn hóa". Chị chỉ không muốn mọi công việc trong nhà mặc nhiên trở thành trách nhiệm của người mẹ. Nhưng theo thời gian, chị nhận ra một món ăn, một công thức nấu nướng hay một bữa cơm gia đình cũng có thể mang theo ký ức.
Đứa trẻ sinh ra ở New Zealand gọi điện hỏi mẹ cách nấu một món Việt rồi tự tay nấu trong căn bếp của mình. Với chị Minh, sự tiếp nối đôi khi giản dị như thế.

Hai anh em Henry và Bella được mẹ dạy nấu thành thạo món Việt trong căn bếp ở New Zealand
ẢNH: NVCC
NGÀY GIỖ ÔNG NGOẠI Ở New Zealand
Mỗi năm, trong nhà chị Minh vẫn tổ chức ngày giỗ ông ngoại. Henry và Bella phụ mẹ chuẩn bị cơm, bày xôi, canh lên mâm. Mỗi khi chị thắp hương, hai con tự ngồi xuống bên cạnh.
Chị không bắt con phải hiểu mọi nghi lễ giống thế hệ mình. Điều chị muốn chúng biết là phía trước bố mẹ còn có ông bà, tổ tiên, có một gia đình lớn ở Việt Nam và các con là một phần trong đó.
"Dù các con được sinh ra và lớn lên giữa nền văn hóa phương Tây, tôi luôn mong con hiểu và giữ được những giá trị truyền thống của gia đình", chị Minh nói.
Đó cũng là bài toán của không ít gia đình Việt ở nước ngoài: giữ thế nào để trẻ không cảm thấy phải sống cuộc đời của cha mẹ, nhưng hòa nhập thế nào để Việt Nam không chỉ còn là nơi bố mẹ chúng sinh ra?
Chị Minh chọn cách đưa văn hóa vào đời sống thay vì biến nó thành một bài kiểm tra: qua món ăn, ngày giỗ, cách ứng xử với ông bà, những câu chuyện về gia đình và những chuyến trở về.
Từ nhỏ, Henry và Bella thường nghe mẹ kể về quê ngoại ở Vĩnh Phúc (nay là Phú Thọ), với cánh đồng, triền đê, những ngày chăn trâu, cắt cỏ, chạy theo xe mía, thả diều.
Nhưng chị Minh không muốn Việt Nam trong tâm trí con chỉ được tạo nên bằng ký ức của mẹ. Khi có điều kiện, chị đưa hai con về quê, để chúng gặp họ hàng, bước trên con đê mẹ từng đi, chơi trên cánh đồng mẹ từng chơi.
Việt Nam từ đó trở thành ký ức của chính Henry và Bella.

Chị Minh coi việc dạy các con làm việc nhà, nấu các món Việt là cơ hội để tăng cường kết nối với các con
ẢNH: NVCC
GIỮ TRUYỀN THỐNG NHƯNG KHÔNG GIỮ CON TRONG KHUÔN CŨ
Chị Minh đang viết một cuốn sách mà chị nói là "viết cho hai con". Khi đọc những trang bản thảo đầu tiên, tôi nhận ra đó không chỉ là câu chuyện hai đứa trẻ lớn lên. Đằng sau hành trình ấy còn là sự thay đổi của chính người mẹ Việt trong hơn 20 năm sống ở New Zealand.
Nếu từ gia đình Việt, chị Minh mang theo sự gắn bó giữa các thế hệ, lòng kính trọng ông bà, tình cảm anh em, thì cuộc sống ở New Zealand giúp chị tiếp nhận thêm những giá trị khác: tính tự lập, tôn trọng sự khác biệt và lựa chọn cá nhân.
Hai dòng văn hóa cùng hiện diện trong cách chị nuôi con.
Chị Minh từng nghĩ nếu con không nghe lời nghĩa là không tôn trọng cha mẹ. Chị cũng từng muốn hai con đi con đường mình thấy an toàn, chọn điều mình cho là đúng và tránh những vấp ngã mà mẹ từng trải qua.
Nhưng Henry và Bella càng lớn càng có chính kiến. Người mẹ dần hiểu giữ giá trị gia đình không có nghĩa giữ con trong khuôn của mình.
Khi Henry đứng trước lựa chọn ngành học đại học, chị hỏi con muốn học gì. Henry trả lời: "Con muốn tự chọn mẹ à". Chị chỉ hỏi con muốn một cuộc sống tương lai thế nào, có yêu công việc mình định theo đuổi không, rồi để Henry tự tìm hiểu và quyết định. Đó là một thay đổi không nhỏ với người mẹ từng nghĩ yêu con là phải chỉ cho con con đường an toàn nhất.
Bây giờ Henry đã vào đại học, Bella đang ở những năm cuối phổ thông. Hai đứa trẻ trưởng thành trong xã hội New Zealand, có bạn bè, chính kiến, lựa chọn và cuộc sống riêng. Nhưng chúng cũng biết nấu món Việt, biết ngày giỗ ông ngoại, biết về họ hàng và từng chạy trên triền đê quê mẹ.
Chị Minh nói mình may mắn khi được là "con của hai đất nước". Việt Nam cho chị bố mẹ, anh chị em, tuổi thơ, tiếng Việt và những ký ức đầu tiên. New Zealand là nơi chứng kiến phần lớn cuộc đời trưởng thành, nơi chị lập gia đình, sinh con, gây dựng cuộc sống và tiếp nhận những cách nhìn mới.
Với các con, chị cũng không muốn chúng phải lựa chọn. "Tôi muốn các con hiểu rằng cả Việt Nam và New Zealand đều là một phần của mình".
Có lẽ đó cũng là cách Nguyễn Thị Minh dựng nên một mái nhà Việt giữa xứ Kiwi: không giữ con trong chiếc khuôn của thế hệ trước, nhưng trao cho chúng đủ ký ức về gia đình, đủ trải nghiệm về quê hương và đủ yêu thương để dù lớn lên ở đâu, chúng vẫn biết mình từ đâu mà đến.
Bình luận (0)