Con ăn bán trú ở trường, làm sao biết đủ hay thiếu chất nào?

Như Quyên
Như Quyên
Gần đây, bữa ăn bán trú đang là mối quan tâm của nhiều phụ huynh. Nhiều người chia sẻ, việc cho con ăn ở trường ‘vừa tiện, nhưng cũng vừa lo’.

"Không biết con đang thiếu hay thừa chất nào"

Chị D.T.Y.A (phụ huynh có con học mầm non tại TP.HCM) bày tỏ lo lắng: “Tuần nào tôi cũng xem kỹ thực đơn cô giáo gửi, thỉnh thoảng xem camera để biết con có ăn được không. Chiều đón con về, tôi cho con uống thêm sữa, ăn sữa chua. Tôi không biết con đang thiếu hay thừa chất nào nên thường quan sát biểu hiện, lượng ăn ở nhà và theo dõi cân nặng, chiều cao. Con còn nhỏ, khó hỏi về bữa ăn nên tôi chỉ biết quan sát nhiều hơn”.

Con ăn bán trú ở trường, làm sao biết đủ hay thiếu chất nào? - Ảnh 1.

Ở trẻ mầm non, nên ưu tiên thức ăn dễ cắn vỡ, kết cấu giòn, xốp hoặc mềm vừa phải, được cắt hoặc băm vỡ thớ thịt

ẢNH MINH HỌA: N.QUYÊN TẠO TỪ CHAT GPT

Chị M.T. (phụ huynh có con đang học bậc THCS ở TP.HCM) cho biết luôn hỏi con sau khi tan học chất lượng bữa ăn bán trú mỗi ngày. Điều chị T. quan tâm nhất là việc con có ăn đầy đủ chất hay không. Khi con ăn ít hơn bình thường, chị sẽ nhắc con ăn thêm hoặc chia nhỏ khẩu phần, vì gia đình luôn muốn ưu tiên đảm bảo dinh dưỡng cho con thông qua các bữa ăn hằng ngày.

Nhận biết trẻ ăn đủ chất qua khẩu phần

Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hoàng Thạch, Phó trưởng Khoa Nhi và Hồi sức sơ sinh, Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), trẻ phải được ăn đa dạng các nhóm thực phẩm, thay đổi món và đảm bảo khẩu phần phù hợp với lứa tuổi:

Mầm non (3 - 5 tuổi): Giai đoạn tăng trưởng chiều cao nhanh và hoàn thiện hệ thần kinh, cần chia thành nhiều bữa nhỏ (3 bữa ăn chính; 2 - 3 bữa phụ), với lượng hằng ngày gợi ý như sau:

  • Đạm: 100 - 150 g thịt động vật, tôm, cua, cá, hoặc khoảng 200 g trứng, đậu phụ.
  • Chất béo: 25 g mỡ heo hoặc 4 - 5 muỗng cà phê dầu ăn.
  • Tinh bột: 2 - 2,5 chén cơm lưng.
  • Rau xanh: 1,5 chén rau chín. 
  • Trái cây: Khoảng 200 g phần thịt quả.
  • Sữa: 300 - 400 ml/ngày.
  • Vi chất cần chú ý: Canxi, vitamin D, sắt, kẽm và vitamin A để hỗ trợ phát triển chiều cao, thị lực và hệ miễn dịch.

Tiểu học (6 - 11 tuổi): Trẻ học tập và vận động nhiều hơn, nhu cầu năng lượng tăng.

  • Đạm: 3 bữa với 60 - 80 g thịt/cá mỗi bữa chính. Cách ước lượng nhanh: Một miếng thịt/cá bằng lòng bàn tay trẻ, dày khoảng 1 đốt ngón tay.
  • Chất béo: Khoảng 35 g mỡ heo hoặc 5 - 6 muỗng cà phê dầu/ngày.
  • Tinh bột: 3 - 4 chén cơm/ngày.
  • Rau xanh: Khoảng 2 - 2,5 chén nhỏ rau chín/ngày. Trái cây: Khoảng 4 nắm tay trẻ.
  • Sữa: Khoảng 400 - 500 ml/ngày.
  • Vi chất cần chú ý: Canxi, vitamin D, sắt và i ốt. Trẻ ở tuổi này thường ghét ăn rau quả, nên đây là khoảng trống dinh dưỡng phổ biến cần bù đắp.
Con ăn bán trú ở trường, làm sao biết đủ hay thiếu chất nào? - Ảnh 2.

Phụ huynh bày tỏ mong muốn phần ăn bán trú đảm bảo vệ sinh, khẩu phần phù hợp với trẻ

ẢNH: PHỤ HUYNH CUNG CẤP


Trẻ dậy thì: Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hoàng Thạch, trẻ dậy thì cần rất nhiều đạm cho cơ, chất béo cho khuôn hình của trẻ, nhất là trẻ em gái. Nhu cầu hằng ngày gợi ý như sau:

  • Đạm: 3 bữa với khoảng 100 g thịt/cá mỗi bữa (khoảng 2 lòng bàn tay người lớn).
  • Chất béo: Khoảng 50 g mỡ heo hoặc 6 - 7 muỗng cà phê/ngày.
  • Tinh bột: Khoảng 6 - 8 chén cơm cả ngày.
  • Rau xanh: Khoảng 240 - 320 g cho cả ngày.
  • Trái cây: Khoảng 4 quả cỡ vừa, đa dạng chuối, ổi, táo, lê… mỗi ngày.
  • Sữa: Khoảng 500 - 600 ml/ngày. Ưu tiên uống ban ngày, lựa chọn các loại bổ sung canxi.
  • Vi chất: Canxi và vitamin D (nhu cầu canxi ở tuổi dậy thì là 1.000 - 1.200 mg/ngày; vitamin D là 600 IU/ngày để phát triển chiều cao tối đa); sắt; kẽm và omega-3.

Dấu hiệu trẻ thiếu chất

Theo thạc sĩ - bác sĩ Mai Quang Huỳnh Mai, Phó trưởng khoa Dinh Dưỡng, Bệnh viện Nhi Đồng 2 (TP.HCM), khi trẻ bị thiếu hụt vi chất hoặc năng lượng, cơ thể sẽ phát ra các cảnh báo sớm:

Về thể chất và tăng trưởng: Khó tăng cân, chậm phát triển chiều cao, mệt mỏi kéo dài, dễ kiệt sức khi vận động; thường xuyên bị ốm/nhiễm trùng (viêm họng, cảm cúm), lâu hồi phục; vết thương lâu lành.

Về thần kinh, hành vi và học tập: Giảm tập trung, sa sút kết quả học tập, mệt mỏi trong giờ học; cáu gắt, lo âu, ủ rũ, chậm chạp hoặc thờ ơ; chán ăn.

Về hình thái bên ngoài (răng, tóc, cột sống): Mọc răng hoặc thay răng chậm; tóc khô, xơ cứng nang tóc, da khô; có biểu hiện gù hoặc vẹo cột sống do thiếu canxi, vitamin D kéo dài.

Bác sĩ Hoàng Thạch lưu ý thêm, nhiều trẻ trông vẫn bụ bẫm nhưng lại thiếu vi chất trầm trọng. Các biểu hiện thiếu dinh dưỡng cũng có thể trùng với triệu chứng của nhiều bệnh lý mạn tính về nội tiết, chuyển hóa và tiêu hóa. Vì vậy, nếu trẻ có nhiều dấu hiệu bất thường kéo dài, nên đưa đi khám thay vì tự cho uống nhiều loại vitamin hoặc thuốc bổ

>>> Đón xem kỳ tiếp theo: Con học bán trú, tối về nên cho ăn gì?

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.