Diện mạo làng trong thời mới

20/02/2026 08:47 GMT+7

Sau khi tiến hành sắp xếp lại địa giới hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, diện mạo làng xưa sẽ thay đổi ra sao? Ở đây tôi chỉ phân tích từ vùng đất Quảng xưa…

Quan hệ thân tộc chi phối

Trong bản đồ Hồng Đức (1409) triều Lê, vùng đất Điện Bàn và Quảng Nam ngày nay nằm ở miền "biên viễn" thuộc châu Hóa. Nguyễn Trãi trong Dư địa chí viết rằng: "Đây là một phên giậu thứ tư ở miền nam nước ta vậy!".

Theo các tài liệu sử học, từ thời nhà Trần, cư dân Việt đã có mặt ở châu Hóa nhưng khá ít và chủ yếu quần cư dọc hai con sông lớn Vu Gia, Thu Bồn. Tác giả Lê Hữu Quýnh trong cuốn Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ 17 - 18 nhận định: "Ở các xứ phía nam như Tân Bình, Thuận Hóa, Quảng Nam cư dân hãy còn thưa thớt, nhu cầu di dân khai phá đất đai xây dựng xóm làng để củng cố vững chắc lãnh thổ và tăng thêm nguồn thu nhập của nhà nước cũng trở thành cần thiết". 

Tuy vậy, theo Phan Khoang (Việt sử xứ Đàng Trong), đến khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, trong đó có Triệu Phong ở phía nam bao gồm đất Điện Bàn ngày nay, thì "nhân dân bấy giờ gồm những thành phần rất phức tạp". 

Ngoài những người chăm lo cày cấy làm ăn, còn có những người vẫn theo nhà Mạc, hoặc khuấy động cho nhà Mạc; những người tù đày, những kẻ du đãng, phiêu lưu từ các miền Nghệ, Thanh hoặc xa hơn nữa đi tìm may mắn ở miền đất mới, những quan quân bất mãn họ Trịnh hoặc bị lầm lỗi bỏ chạy vào nam, những thổ hào, thổ tù cường ngạnh nhũng nhiễu lương dân, những người Chămpa còn ở lại…

Diện mạo làng trong thời mới- Ảnh 1.

Làng cổ Lộc Yên ở xã Thạnh Bình, TP.Đà Nẵng

ẢNH: NGUYỄN TRÌNH

Để ổn định trật tự, xây dựng xứ Đàng Trong phồn thịnh, một hệ thống chính quyền và luật pháp bên cạnh chế độ cai trị mềm mỏng chắc chắn đã được áp dụng từ đó, trong đó có các làng xã… 

Với những cải cách chính quyền cơ sở từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (cầm quyền 1635 - 1648) đến chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), cấp xã dần được hình thành song song với các cấp tương đương khác. Theo Phủ biên tạp lục, xã 999 người (có lẽ là dân đinh) có đến 18 xã trưởng và tướng thần; xã dưới 400 dân được phân 8 xã trưởng và tướng thần; 70 dân thì chỉ có 1 xã trưởng và 1 tướng thần… Đến thời vua Gia Long trở đi cho đến năm 1944, phủ, huyện, tổng, xã là các cấp hành chính địa phương dưới tỉnh…

Năm Thành Thái thứ 18 (1908), Đại Nam nhất thống chí cho biết số lượng dân đinh ở Quảng Nam là 55.751 người. Cứ tính theo hệ số 5, thì dân số Quảng Nam vào lúc đó khoảng trên 250.000 người. Hình thức cư trú ban đầu bị chi phối bởi 2 yếu tố đường giao thông và nguồn nước (nông nghiệp lúa nước), trong đó đường giao thông chủ yếu vẫn là các thủy lộ. 

Câu nói "nhất cận thị, nhị cận giang" đã thể hiện thứ tự ưu tiên chọn đất định cư. Nhưng "thị" cũng gắn liền với các bến sông, nên có thể nói các làng mạc đầu tiên của xứ Quảng gắn liền với các con sông: Thu Bồn, Vu Gia và các sông lớn nhỏ khác ở vùng Quảng Ngãi…

Cư trú theo quan hệ thân tộc là một đặc điểm khác của các làng Quảng Nam. Dòng tộc và làng xã là 2 yếu tố gắn liền nhau trong nhiều thế kỷ ở cả Quảng Nam và nhiều tỉnh xứ Đàng Trong. Cho dù các tộc "tiền hiền" ban đầu chỉ là một hai người đến khai khẩn ruộng đất, nhưng hầu hết khi đã an cư thường về lại quê cũ đưa phần mộ của cha mẹ và dẫn dắt bà con, anh em cùng đến.

Ở Đại Lộc chẳng hạn, "việc thành lập làng thường trải qua việc khai khẩn từng vùng nhỏ, tùy tính chất từng vùng mà có tên gọi khác nhau như thôn, trang, trại, sở, phường, động, sách, ngày nay vẫn còn ở các địa danh…" (Địa dư chí Đại Lộc). Cũng có hiện tượng sáp nhập các cụm dân cư nhỏ như xóm, trại ghép vào nhau để thành làng xã (như An Tự và Thanh Tú ở Điện Bàn, là 2 điểm dân cư mới ghép lại thành làng An Thanh). 

Nhiều làng có đến 5 - 7 tộc tiền hiền ngày nay đều cho thấy làng đó khi xưa có nhiều xóm, nhiều vùng đất canh tác lân cận nhau được các vị đến khai phá. Sau khi cộng cư nhiều đời, dân số phát triển bèn hợp lại thành làng, xây dựng chùa làng, đình làng. Nhưng tộc họ là một đặc điểm xã hội học nông thôn trong mối quan hệ đa chiều từ lâu.

Các nhà dân tộc học nhấn mạnh tộc họ là một hiện tượng đặc biệt vẫn tồn tại cho đến ngày nay trong các thiết chế kinh tế, văn hóa cơ sở như nhà thờ tộc, đất hương hỏa, phổ hệ, gia phả, vai trò trưởng nam, giỗ chạp… Các triều đại phong kiến Việt Nam và Đàng Trong nói riêng vẫn đề cao vai trò tộc họ, thậm chí là vai trò các tộc tiền hiền, các đại tộc ở làng xã. Luật Gia Long chẳng hạn, đã thể chế hóa các quan hệ tộc họ, gia đình về mặt hình sự. Đọc Quảng Nam xã chí (1944) cho thấy tại các làng, ngoài cổ chỉ, kiến trúc, sản vật... thì vấn đề tộc tiền hiền luôn được coi trọng!

Tính tự trị và bền vững

Trong mối quan hệ đó, làng xã ở Quảng Nam là đơn vị cơ sở trong tổ chức xã hội ban đầu rồi dần dần trở thành đơn vị hành chính nhưng mang tính tự trị, chỉ gắn bó với chính quyền cấp trên trong việc sưu thuế, binh lính, phu dịch… Vì vậy, vai trò của lý trưởng đơn giản là đại diện cho vương quyền ở cơ sở, còn vai trò của Hội đồng hương mục, đại diện các tộc tiền hiền và thân hào nhân sĩ, quan viên hưu trí… lại sâu sát hơn với đời sống người dân.

Quốc triều chánh biên toát yếu (Cao Xuân Dục, 1908) nêu nhiều chỉ dụ của vua Gia Long về việc chấn hưng văn hóa làng, dạy dỗ người dân bỏ mê tín, hủ tục để tạo đời sống thiện lương: "Lâu nay việc dạy trễ nải, việc chánh suy đồi, cho nên trong làng không có tục tốt, theo thói đã lâu, lại càng bại hoại lắm… Bây giờ phải châm chước sửa lại, bớt những điều thái quá, cho hiệp đạo trung bằng, để làm lệ thường trong hương đảng". 

Paul Mus, học giả người Pháp đầu thế kỷ 20, thì có cái nhìn khái quát hơn: "Làng Việt Nam là cái chìa khóa để giải mã bí mật Việt Nam". Trong hồi ký của mình, ông Vũ Đình Hòe - Bộ trưởng Quốc gia giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - viết: "Muốn tìm hiểu lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã, và muốn xây dựng lại đất nước Việt Nam thì cũng phải bắt đầu từ việc xây dựng lại cộng đồng làng xã. Vì không có làng xã Việt Nam thì không có quốc gia Việt Nam"…

Từ năm 1945 trở đi, nhất là trong các cuộc chiến tranh vệ quốc, các lực lượng du kích vẫn dựa vào từng thôn xóm để chiến đấu, bảo vệ làng xã. Chính quyền miền Nam lập làng thôn nào thì phía cách mạng đều lập làng xã tương ứng để đấu tranh. Hình thái đó được duy trì đến năm 2024. Quan hệ thân tộc vẫn tồn tại, cho dù tính tự trị có phai nhạt chút ít do quá trình di dân cơ học, nhưng tín ngưỡng dân gian lại phát triển vì việc xây dựng đình, chùa làng, nhà thờ tộc, miễu xóm phát triển…

Khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được xây dựng, nhiều xã, phường được ghép lại thành một xã phường mới, cấp huyện không còn nữa. Khi đó, từng xã phường mới có dân số tăng có khi gấp 4-5 lần. Nhưng các thôn xóm vẫn tồn tại với nền nếp không có gì thay đổi. Từng tộc họ vẫn như cũ với các sinh hoạt cố hữu, khó thay đổi trong ngày một ngày hai.

Mỗi làng lại có riêng chi bộ, trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn hoặc khối phố và các đoàn thể ổn định trong một không gian cư trú truyền thống. Trong khối phố Thanh Quýt 1 (P.An Thắng, TP.Đà Nẵng, trước thuộc P.Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) có 7 tộc tiền hiền từ 400 - 500 năm nay, vẫn giữ các nghi lễ từ tế xuân, tế thu, cúng miễu (miếu), tạ mả âm linh, cúng đình làng như từ xưa vẫn vậy. Xây dựng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là nhằm rút gọn cấp quản lý, đơn giản hóa thủ tục và bộ máy hành chính vốn rườm rà lâu nay. Chứ làng thôn thì vẫn vậy, làm sao thay đổi được!

Bởi trong làng xã luôn chứa đựng các yếu tố văn hóa, lịch sử riêng biệt, khó thay thế…

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.