Chi từ vài chục đến trăm triệu đồng ôn thi: Lo ngại khi áp dụng đột ngột
Khảo sát với một nhóm nhỏ 8 học sinh (HS) có ôn thi IELTS, PV Thanh Niên ghi nhận xu hướng lo ngại khi 6/8 em muốn giữ nguyên quy định cộng điểm như hiện tại. Tất cả đều ôn luyện bài thi này bởi nhu cầu xét tuyển trong nước, và đều nhận định dự thảo sẽ "ảnh hưởng lớn đến cơ hội xét tuyển vì điểm cộng là yếu tố quyết định".

Thí sinh trao đổi với người đạt điểm IELTS cao tại một sự kiện diễn ra hồi tháng 3.2026
ẢNH: NGỌC LONG
Nổi bật trong số này có 3 em chi hơn 100 triệu đồng cho các chi phí liên quan như học phí, lệ phí thi, phí mua thêm tài liệu. Còn lại, 1 em chi từ 50 - 100 triệu đồng, 3 em chi từ 20 - 50 triệu đồng và 1 em chi trong khoảng 10 - 20 triệu đồng để lấy được chứng chỉ này.
"Một số HS của tôi đang nao núng và không còn nhiều quyết tâm như xưa khi nghe tin điểm cộng có thể bị bỏ. Tuy nhiên phần lớn các bạn vẫn đi học bình thường vì hoặc có môn tiếng Anh trong tổ hợp thi, hoặc xác định có thể tiếp tục dùng IELTS để miễn thi tiếng Anh đầu vào và miễn học phần tiếng Anh bắt buộc ở các trường ĐH", ông Lê Huỳnh Đức, Giám đốc Trung tâm IELTS Huỳnh Đức (TP.Đà Nẵng), nêu thực tế.
Ông Đức cho rằng lo ngại của Bộ GD-ĐT là có cơ sở và một số bất cập của việc cộng điểm đã được chỉ ra. Tuy nhiên, chấn chỉnh những bất cập đó và bỏ hẳn điểm cộng là 2 việc khác nhau. Bởi thế, ông Đức đề xuất chuẩn hóa một bảng quy đổi chung trên cả nước, đặt trần lợi thế, loại bỏ thưởng điểm 2 lần, tăng cường đầu tư nguồn lực vào các vùng miền khó khăn cũng như cần lộ trình thay đổi trong nhiều năm, chỉ áp dụng từ lứa mới vào lớp 10 năm nay chứ không nên cho lứa sinh năm 2009.
Tương tự, nghiên cứu sinh tiến sĩ Lê Cao Bách, sáng lập và điều hành TESOL Simple Education - tổ chức chuyên đào tạo giáo viên (GV) tiếng Anh, đề xuất phương án khả thi là dời thời hạn áp dụng quy định sang 3 năm sau, khi lứa HS lớp 10 hiện tại chuẩn bị xét tuyển vào ĐH, hoặc giảm mức trần điểm cộng dành cho các chứng chỉ ngoại ngữ như IELTS. Song song đó, để thực sự tạo công bằng, có thể tìm cách đưa nguồn lực và bài thi ngoại ngữ, trong đó có các kỳ thi nội địa như VSTEP, về các địa phương vùng sâu, vùng xa để mở rộng cơ hội tiếp cận cho tất cả.

Ví dụ minh họa chênh lệch điểm của 362 thí sinh sử dụng chứng chỉ quốc tế để được cộng điểm vào một ngành sử dụng tổ hợp toán, văn, tiếng Anh (D01)
ẢNH: BỘ GD-ĐT
Sớm cho thi tốt nghiệp THPT 4 kỹ năng môn ngoại ngữ
Ở góc nhìn khác, T. (HS lớp 12 Trường THPT Trần Phú, TP.HCM) nhận định việc bỏ điểm cộng từ IELTS không ảnh hưởng nhiều tới mình, dù đã dành khoảng 2 năm ôn tập và chi gần 36 triệu đồng phí học thêm ở trung tâm luyện thi. "Dù khá bất ngờ với dự thảo mới, nhưng IELTS với em như một cách để trau dồi kỹ năng giao tiếp và sử dụng tiếng Anh nên em không để ý lắm", T. bộc bạch.
Còn ông Đặng Duy Hùng, Quản lý hệ thống luyện thi Helius Education (TP.HCM), ủng hộ việc bỏ cộng điểm IELTS, bởi chứng chỉ này dù quan trọng nhưng không thể làm thước đo cho các năng lực học thuật khác như kinh doanh, công nghệ thông tin, sư phạm... Chưa kể, việc học và thi IELTS còn được cho là "quá xa xỉ", khoét sâu bất công giữa các HS có điều kiện kinh tế gia đình khác nhau.
"Ngoại ngữ rất quan trọng, nhưng dùng ngoại ngữ để tăng tỷ lệ đậu, rớt của một ngành học khác thì bất hợp lý, trừ các ngành đặc thù liên quan tới ngôn ngữ hay dạy bằng ngoại ngữ", ông Hùng nêu quan điểm và nói thêm: "Riêng kỳ thi tốt nghiệp THPT cần sớm tổ chức thi cả nghe, nói để vừa khẳng định uy tín sát hạch, đáp ứng tiêu chí tuyển sinh của các trường ĐH mà không cần phụ thuộc vào các chứng chỉ ngoại ngữ, vừa thay đổi cách học trên trường".
Ông Hùng cũng cho biết một thực tế là trong 2 năm gần đây, khi đề tiếng Anh thi tốt nghiệp THPT trở thành môn tự chọn và thay đổi cấu trúc, ngày càng nhiều HS tập trung vào IELTS và xem kết quả kỳ thi này như "phao cứu sinh" nếu không làm tốt bài thi THPT - vốn được đánh giá là có độ khó cao hơn thuở còn là môn thi bắt buộc.
Bộ GD-ĐT: Hai cách thức bất công cần được tháo gỡ ngay
Ngày 21.9, ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH, Bộ GD-ĐT, đã trao đổi với báo chí về một số quy định liên quan tới dự kiến bỏ điểm cộng trong quy chế tuyển sinh ĐH. Ông Thảo nêu một số bất cập do các trường áp dụng tùy hứng chính sách điểm cộng trong tuyển sinh mà Bộ GD-ĐT đã nhận thấy từ dữ liệu thống kê tuyển sinh năm 2026.
Theo ông Thảo, dữ liệu tuyển sinh năm 2026 cho thấy hơn 37.300 thí sinh (TS) sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm; trong đó trên 35.900 TS sử dụng IELTS. 6.0 là mức phổ biến nhất, với 8.318 TS, nhưng được các trường quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau.
Ở nhóm ngành thuộc top 5% điểm chuẩn cao, có ngưỡng tham chiếu 26,09/30, hơn 30% người nhập học có điểm cộng; tỷ lệ này ở nhóm ngoài top 25% là 9,51%. Trong 3 phương thức không có cấu phần ngoại ngữ riêng gồm xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ và kết hợp hai kết quả, 51,42% TS có điểm cộng nhưng điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành. "Các con số này không xác định được từng cặp TS bị thay thế, nhưng cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố quyết định kết quả tại các ngành cạnh tranh cao, tạo sự bất bình đẳng trong tuyển sinh", ông Thảo nói.
Cũng theo ông Thảo, có 2 cách thức đang gây mất công bằng và đã là bất cập thì cần thiết phải xử lý tháo gỡ điểm nghẽn ngay. Thứ nhất, ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng TS có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng điểm. Chẳng hạn, với ngành chỉ xét toán, vật lý và hóa học, một TS có kết quả 3 môn cao hơn vẫn có thể trượt trước TS có điểm chuyên môn thấp hơn nhưng được cộng chứng chỉ.
Thứ hai, tổ hợp đã có môn tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục được dùng để cộng thêm điểm. Khi đó, năng lực ngoại ngữ vừa được phản ánh trong điểm tổ hợp, vừa tạo thêm lợi thế ngoài thang đo. Một năng lực được tính hai lần sẽ làm sai lệch thứ tự xét tuyển, đặc biệt ở các ngành có điểm chuẩn cao, nơi chênh lệch rất nhỏ cũng có thể quyết định trúng tuyển hay không.
Ông Thảo cho biết thêm thống kê hiện nay cho thấy nhiều ngành điểm chuẩn khoảng 28 nhưng cho cộng tới 1,5 điểm, khiến hàng nghìn TS đạt 26,5 - 28 điểm vẫn không trúng tuyển chỉ vì không có điều kiện thi chứng chỉ có chi phí cao.
Quý Hiên
Lý do IELTS thành "cơn sốt"
Nghiên cứu của ông Trần Thanh Vũ, ĐH Durham (Anh), đăng năm 2025 trên tạp chí English Today (Tiếng Anh ngày nay) chỉ ra rằng việc GV tiếng Anh phải thi IELTS để đạt yêu cầu Đề án Ngoại ngữ quốc gia năm 2020, chất lượng dạy tiếng Anh ở trường công, độ phủ của mạng lưới trung tâm khảo thí IELTS, chính sách cho dùng IELTS để xét tuyển ĐH hay sự vinh danh từ truyền thông... là các yếu tố thúc đẩy IELTS thành "cơn sốt" tại VN.
"Cuộc chạy đua IELTS đã tạo ra một xu hướng thiếu lành mạnh trong dạy và học tiếng Anh tại VN, đồng thời làm nới rộng khoảng cách KT-XH giữa HS ở các vùng miền khác nhau. Trước "cơn sốt" này, đã xuất hiện nhiều lời kêu gọi nhìn nhận IELTS trong một bối cảnh phù hợp hơn - coi đó là một bài kiểm tra năng lực ngôn ngữ, thay vì một thước đo hay biểu tượng của thành công", nghiên cứu nhấn mạnh.
Nghiên cứu cũng nêu thực tế ngày càng nhiều người có nền tảng chuyên môn khác đã chuyển hướng qua dạy tiếng Anh như một nghề nghiệp thứ hai trước "cơn sốt" IELTS. Đây thường là những người đạt thành tích cao trong các kỳ thi đánh giá năng lực ngôn ngữ, chủ yếu là IELTS, và chọn nghề dạy học vì công việc này mang đến thu nhập hấp dẫn hoặc phù hợp hơn với tính cách của họ.
Trước đó, trình bày tại Hội thảo quốc tế VietTESOL năm 2026 diễn ra hồi tháng trước ở Đà Nẵng, ông Bùi Hoàng Minh Trung, Trường ĐH Tôn Đức Thắng (TP.HCM), đã chia sẻ một số phát hiện ban đầu trong nghiên cứu về hiện tượng kiệt sức ở những TS ôn thi IELTS. Phát hiện sơ bộ chỉ ra rằng áp lực xã hội càng lớn, người học IELTS càng có nguy cơ rơi vào trạng thái kiệt sức.











Bình luận (0)