Đoàn quân đi - mùa xuân về

Mối thân tình giữa cha mẹ tôi - Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo và nhà văn Nguyệt Tú - với nhạc sĩ Văn Cao chưa bao giờ đứt đoạn.

Hồi còn trẻ, những chiều hè, tôi thường cùng cha đi bơi thuyền ở Hồ Tây. Đến nay, tôi còn nhớ rõ cảnh ông vừa chèo thuyền vừa nói về bài hát Trương Chi của Văn Cao. Ông tủm tỉm: "Mỵ Nương say tiếng ca tìm người hát. Trương Chi ngắm người nghe say sắc đẹp. Gặp nhau, người này thất vọng, kẻ kia thất tình".

Những năm 1930, dưới ảnh hưởng của văn minh phương Tây, trực tiếp là văn hóa Pháp, nền văn hóa mới của VN "đơm hoa, kết trái". Về tác phẩm đỉnh cao: Hội họa có tranh lụaChơi ô ăn quan của Nguyễn Phan Chánh (1931), thơ ca có Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Nhớ rừng của Thế Lữ (1935), âm nhạc có Thiên thai, Trương Chi của Văn Cao (1942 - 1943). Cha và mẹ tôi - nhà văn Nguyệt Tú, con gái đầu danh họa Nguyễn Phan Chánh - cùng say mê nền văn hóa mới này.

Năm 1942, Văn Cao chuyển từ Hải Phòng lên Hà Nội, học dự thính Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nơi họa sĩ Nguyễn Phan Chánh theo học khóa 1. Đây cũng là thời kỳ phong trào cách mạng ở Hải Phòng và Hà Nội bị khủng bố nặng. Thành ủy Hà Nội vỡ nhiều lần. Vũ Quý (lãnh đạo Đảng ở Hải Phòng - Kiến An) bị truy bức phải lánh lên Hà Nội. Đầu năm 1943, cha tôi được điều về Hà Nội làm Bí thư Ban cán sự, lập lại các cơ sở. Nhà văn Nguyễn Đình Thi đưa Vũ Quý đến gặp cha. Ít lâu sau Vũ Quý vào Thành ủy, phụ trách khối văn nghệ sĩ. Mùa đông 1944, bị mật thám bắt hụt, cha tôi chạy thoát ra ngoại thành, có Vũ Quý đi bảo vệ. Vì bị lộ, đồng thời để chuẩn bị tổng khởi nghĩa, cha tôi được báo sẽ nhận nhiệm vụ mới, làm Chính trị viên Trường Quân chính kháng Nhật sắp thành lập ở chiến khu và Vũ Quý sẽ làm quyền Bí thư Hà Nội thay cha.

Đoàn quân đi - mùa xuân về - Ảnh 1.

Văn Cao - Chân dung tự họa

ẢNH: TÁC GIẢ CUNG CẤP

Khi ở Hải Phòng, Văn Cao và Vũ Quý đã quen biết nhau. Cuối năm 1944, hai người gặp nhau tại quán ăn gần ga Hàng Cỏ. Câu chuyện giữa họ thật đơn giản nhưng không ngờ đã quyết định cuộc đời mới của nhạc sĩ:

" - Văn có thể thoát ly hoạt động được chưa?

- Ðược.

- Ngày mai Văn bắt đầu nhận công tác".

Vài ngày sau Vũ Quý giao nhiệm vụ: "Hiện nay trên chiến khu thiếu bài hát, phải dùng những điệu hướng đạo. Khóa Quân chính kháng Nhật sắp mở, anh hãy soạn một bài hát cho quân đội cách mạng chúng ta". Nghe vậy, nhạc sĩ hụt hẫng: "Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang, chuẩn bị một hành động có thể mạo hiểm hy sinh, không phải quay lại làm bài hát".

Đoàn quân đi - mùa xuân về - Ảnh 2.

Bí thư Lưỡng Hà Lê Quang Đạo (hàng sau, bên phải) - 1948

ẢNH: TÁC GIẢ CUNG CẤP

Nhạc sĩ đi mông lung tới lúc đèn phố bật sáng. Hà Nội đang đói, cơn cuồng đói Ất Dậu làm 2 triệu người chết trong chưa đầy năm. Bên gốc cây, bóng đám người đói trần như nhộng, đun thứ gì trong vỏ lon sữa. Một bé gái 3 tuổi tựa như cháu ông có lẽ đã chết, người không mảnh vải. "Tôi bỗng trào nước mắt, và quay đi. Ðêm ấy về căn gác, tôi viết được nét nhạc đầu tiên của bài hát". Bài Tiến quân ca thành tờ đơn gia nhập Việt Minh của nhạc sĩ. Ông nhớ vẻ hài lòng của Vũ Quý khi nghe: "Da mặt anh đen sạm. Ðôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh".

Ngày 17.8.1945, còn ốm mệt, Văn Cao cố đến dự cuộc mít tinh ở Nhà hát Lớn. "Lá cờ đỏ sao vàng lớn được thả từ bao lơn xuống. Bài Tiến quân ca nổ như một trái bom. Chung quanh hàng nghìn giọng hát cất lên". Nước mắt nhạc sĩ trào ra. "Không có Vũ Quý thì không có Tiến quân ca". Nhưng người đặt hàng không kịp nghe bài ca ấy vang như sấm. Vũ Quý hy sinh oanh liệt tháng 6.1945, ngay trước bình minh của Cách mạng Tháng Tám.

Đoàn quân đi - mùa xuân về - Ảnh 3.

Hàng ngồi từ phải sang: bà Nguyệt Tú, ông Lê Quang Đạo, ông Văn Cao

ẢNH: TÁC GIẢ CUNG CẤP

Ngày 2.9.1945, Tiến quân ca - bài hát chính thức trong Lễ Tuyên ngôn Độc lập - vang lên trên Quảng trường Ba Đình, mở đầu những ngày độc lập tự do. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Tháng 5.1946, Hà Nội nóng lên từng ngày. Bác Hồ điều cha tôi từ Bí thư Hải Phòng về làm Bí thư Hà Nội, chuẩn bị cho kháng chiến. Hàng nghìn lính Pháp đã vào thủ đô, khi 20 vạn quân Tưởng chưa rời VN. Bảy tháng sau, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Chiến sĩ, tự vệ và người dân giành giật sống mái với địch từng căn nhà, mỗi góc phố; giường ghế bàn tủ làm chiến hào, nhà đục thông tường thành chiến lũy. Sau 60 ngày chiến đấu "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", cha tôi rút ra cuối, với Trung đoàn Thủ đô.

Suốt 2 năm 1947 - 1948, Bí thư Lưỡng Hà (Hà Nội - Hà Đông) Lê Quang Đạo đi lại giữa 2 vùng tự do và tạm chiếm, gặp nhiều văn nghệ sĩ. Cuối năm 1948, trong bữa cơm chung, nhạc sĩ Văn Cao nhớ lại: "Anh Lê Quang Đạo nắm chặt tay tôi và nói: "Những ca khúc của cậu đã làm tôi rất xúc động… Dù sao thì chất lãng mạn của cậu vẫn không thay đổi. Không những lời ca hay mà nét nhạc lại rất du dương và hùng tráng nữa chứ. Vậy nếu cậu yêu Hà Nội nhớ Hà Nội thì hãy sáng tác cho Hà Nội một bài hát vừa hùng tráng vừa trữ tình nữa nhé".

Đoàn quân đi - mùa xuân về - Ảnh 4.
Đoàn quân đi - mùa xuân về - Ảnh 5.

Trung đoàn Thủ đô, Đại đoàn 308 tiến vào thủ đô ngày 10.10.1954

ẢNH: TÁC GIẢ CUNG CẤP

Đêm ấy, những nét nhạc đầu tiên của Tiến về Hà Nội đã đến với nhạc sĩ: "Trùng trùng quân đi như sóng. Lớp lớp đoàn quân tiến về…". Về thời kỳ ấy, nhạc sĩ "nhớ nhất là nụ cười rất hồn hậu của anh Lê Quang Đạo khi ngồi nghe tôi hát bài Tiến về Hà Nội".

Lần đó - mẹ tôi kể thêm - cha có nói: bài Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi rất hay, nhưng chỉ có "Hà Nội cháy, khói lửa ngút trời". Vì vậy, ông muốn bài của Văn Cao "vừa hùng tráng vừa trữ tình".

Tiến về Hà Nội vừa ra mắt đã lan truyền rất nhanh; các chiến sĩ, nhất là Trung đoàn Thủ đô, say sưa hát. Nhưng kháng chiến đang ở thời kỳ khó khăn nhất. Có ý kiến phê phán bài hát "lạc quan tếu" và hạn chế phổ biến. Lời hát bị nhại: "Trùng trùng bom rơi như chấu, lớp lớp đoàn quân xuống hầm". Sự cố làm ông mất hứng sáng tác. Khó khăn cộng dồn vào năm 1956 - 1958 khiến trong gần 30 năm (kể từ bài hát này) ông chỉ có vài sáng tác không để lại dấu ấn.

Sau 30 năm quân ngũ, năm 1978, trung tướng Lê Quang Đạo về làm Phó bí thư thường trực Hà Nội. Hằng ngày, Thành ủy chạy lo từng cân gạo, lạng thịt, mét vải. Thời gian này, nhất là khi cha tôi làm Trưởng ban Khoa giáo rồi Chủ tịch Quốc hội, Văn Cao dần được phục hồi vị thế. Năm 1983, nhạc sĩ trở lại làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ. Một hôm cha về nhà, lại tủm tỉm: "Văn Cao vừa khoe. Ông ấy khoái cực kỳ khi dùng khu phụ mới cải tạo, nhờ khoản tiền lớn nhận được sau bao năm".

Thiên thai/Trương Chi, Tiến quân ca/Tiến về Hà Nội Mùa xuân đầu tiên tiêu biểu cho 3 thời kỳ sáng tác của Văn Cao. Thời kỳ đầu, bài hát nổi tiếng ngay, vì dân chúng đã quen với các bài thơ mới trước đó. Trong 2 thời kỳ sau, các bài hát cần thêm thời gian vì chúng mang tính dự báo. Nhạc sĩ "vẽ ra" khung cảnh hiện chưa có nhưng sẽ thành sự thật: "Sao vàng phấp phới…", "Trùng trùng quân đi…", "Khói bay trên sông…". Nhưng dự báo không chỉ ở hình ảnh. Giai điệu đoàn quân ra trận, đoàn quân khải hoàn và mùa xuân yên bình cũng là dự báo. Ba dự báo này ứng với 3 trực giác sáng tạo của một nghệ sĩ đa tài: con mắt họa sĩ, nhịp điệu nhạc sĩ và lời ca thi sĩ. Tuy nhiên, thời gian để "biến dự báo thành sự thật" khác nhau.

Với Tiến quân ca, chỉ sau gần 1 năm, khung cảnh thật làm bài hát bùng cháy. Với Tiến về Hà Nội, phải mất 6 năm để hình ảnh ông vẽ ra thành cảnh thật, và bài hát vang dội. Riêng Mùa xuân đầu tiên cần đến 20 năm, từ ra mắt 1976 tới 1995 - 1996 mới lan tỏa. Khoảng cách dự báo cứ nới rộng dần: 1, rồi 6, rồi 20 năm. Đến nay, điều này thường được cho là do bài hát cuối bị hạn chế lưu hành từ 1976. Cách nghĩ này chỉ đúng phần nào, vì năm 1983 Văn Cao đã trở lại đời sống văn nghệ. Năm 1988, sau nhiều năm vắng bóng, các tác phẩm "rầm rộ" trở lại với 60 buổi biểu diễn khắp nước, tới mức được gọi là "Năm của Văn Cao".

Sau năm 1975, dù hòa bình, đất nước vẫn chưa bình yên: Nam và Bắc phải hòa nhập sau 20 năm khác biệt; chiến sự lại nổ ra ở cả hai miền chỉ sau 3 năm; chuyển đổi "nhọc nhằn" từ thời bao cấp sang kinh tế thị trường non trẻ… Thực tế này không hề đồng bộ với cảnh yên bình của "khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông". Mãi cuối năm 1995, khi kinh tế khởi sắc, hòa hợp dân tộc cải thiện rõ, lời ca "từ nay người biết thương người" thành sự thật, làm bài hát bùng nổ với bộ phim ca nhạc về Văn Cao. Với bài hát cuối, dự báo thiên tài đi trước thời đại 20 năm nảy mầm từ một chữ Tình.

Các bài hát ở 3 thời kỳ có 3 sắc thái khác biệt: bi lụy với hoài niệm, hào hùng với kỳ vọng, yên bình với yêu thương. Nhưng xuyên suốt cả ba sắc thái ấy là chất Tình - một Tình người vượt không gian và thời gian. Nhờ tài năng vượt trội của nhạc sĩ, chất Tình ấy đã tạo nên những kiệt tác rung động lòng người. Chất hùng tráng và trữ tình - điều cha tôi từng mong - hòa thành một, giúp sáng tác của nhạc sĩ trường tồn.

Chất Tình ấy là sợi dây nối cha mẹ tôi với nhạc sĩ. Khi đã sát tuổi bách niên, mẹ tôi nhờ con cháu tập hợp các bài Trương Chi, Suối mơ… để thi thoảng nghe lại. Trong tiếng nhạc dịu êm vọng từ xa xưa, bà chậm rãi nhắc lại các kỷ niệm với Văn Cao, như chiều hè xưa cha tôi vẫn kể khi thuyền lướt nhẹ trên Hồ Tây.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.