Đón xuân này nhớ tết xưa

19/02/2026 07:00 GMT+7

Ở mỗi vùng miền khác nhau, ngoài những lễ hội độc đáo mang bản sắc riêng thì tết Nguyên đán luôn là dịp để sum họp, ước mong cho một năm mới sung túc, đủ đầy. Mọi người về nhà đoàn viên cùng nhau "ôn cố tri tân", mừng nhau thêm một tuổi mới, tạo nên nét văn hóa Việt từ bao đời nay.

TẾT VIỆT XUẤT HIỆN TỪ KHI NÀO?

Qua sử liệu, từ thời Lý - Trần, Việt Nam đã có phong tục đón tết Nguyên đán (tết âm lịch). Những ghi chép dưới triều Trần (1335) bởi soạn giả Lê Tắc với tác phẩm An Nam chí lược, mục Phong tục An Nam miêu tả: "Thường năm, trước lễ tết hai ngày, vua đi xe ngự-dụng, các quan tùy tùng đều mặc triều phục hầu đạo tiền, tế điện Đế Thích. Ngày 30 tết, vua ngồi giữa cửa Đoan Củng, các bề tôi đều làm lễ, lễ rồi, xem các con hát múa trăm lối. Tối lại qua cung Động Nhân, bái yết Tiên Vương. Đêm ấy đoàn thầy tu vào nội làm lễ "Khu Na" (đuổi tà ma quỷ mị). Dân gian mở cửa đốt pháo tre, cổ (cỗ) bàn trà rượu cúng tổ".

Đón xuân này nhớ tết xưa  - Ảnh 1.

Chợ hoa Nguyễn Huệ, trước 1975

Ảnh: Tam Thái

Từ sự tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa với một đặc điểm chung xuất phát từ nền văn hóa nông nghiệp, chu trình mùa vụ gắn với thiên văn đã tạo ra những tiết trời xuân, hạ, thu, đông và khởi đầu là mùa xuân - mùa của sự sinh sôi, nảy lộc đâm chồi, nên tết Nguyên đán được xem là tiết quan trọng bậc nhất của năm, lâu dần trở thành truyền thống. Ít nhất từ thời Lý (1009 - 1225), Việt Nam đã có những ngày tết cổ truyền và truyền thống đó duy trì mãi.

Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn cũng từng có các ghi chép về tết Nguyên đán, sự kiện này cũng được ghi nhận xuất hiện vào thời Lý với những nghi thức quan trọng của triều đình như dùng đàn để lập lễ Nghinh xuân vào ngày lập xuân. Dưới thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức (1469 - 1497), tết Nguyên đán được coi là lễ quan trọng bậc nhất, tất cả các quan văn võ đều phải vào chầu trong cung.

Chính sử triều Nguyễn và ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, cùng một số tài liệu khác cho thấy dưới thời chúa Nguyễn, gần như toàn cõi Việt Nam đều duy trì một phong tục quan trọng nhất trong năm, là tết Nguyên đán. Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, từ thời Gia Long (1802 - 1819), vào dịp tết, vua ngự điện Thái Hòa, đặt lễ Đại triều, bách quan làm lễ Khánh hạ. Sau đó còn thêm việc bắn 9 tiếng súng đại bác (ống lệnh) vào năm 1818, ban thưởng các quan tiệc yến và phẩm vật theo thứ bậc. Các điển lệ này được kéo dài xuyên suốt đến thời Tự Đức (1848 - 1883), trừ vào các năm có nhật thực hay triều đình đang có đại tang.

Từ sự tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa với một đặc điểm chung xuất phát từ nền văn hóa nông nghiệp, chu trình mùa vụ gắn với thiên văn đã tạo ra những tiết trời xuân, hạ, thu, đông và khởi đầu là mùa xuân - mùa của sự sinh sôi, nảy lộc đâm chồi, nên tết Nguyên đán được xem là tiết quan trọng bậc nhất của năm, lâu dần trở thành truyền thống. Ít nhất từ thời Lý (1009 - 1225), Việt Nam đã có những ngày tết cổ truyền và truyền thống đó duy trì mãi.

TẾT Ở MIỀN BẮC

"Ngày xuân con én đưa thoi/Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi/Cỏ non xanh tận chân trời/Cành lê trắng điểm một vài bông hoa" (Nguyễn Du). Khung cảnh mùa xuân miền Bắc đi vào thơ văn với nhiều sắc cảm. Phan Kế Bính ghi chép trong Việt Nam phong tục nhiều công việc phải làm trong "ba ngày tết": dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, cúng ông Công, ông Táo, gói bánh chưng, dựng cây nêu, bày mâm ngũ quả, cúng lễ giao thừa trong đêm "trừ tịch", đi chúc tết, mừng tuổi, xin chữ… Hình ảnh về ngày tết cổ truyền ở miền Bắc với sắc đào đỏ, sắc mai trắng, câu đối đỏ, bánh chưng xanh, thịt mỡ, dưa hành từ lâu đã trở thành một sắc thái văn hóa khó phai nhòa.

Đón xuân này nhớ tết xưa  - Ảnh 2.

Tết ở Hà Nội năm 1929

Ảnh: Bảo tàng Quai Branly

Nét đẹp truyền thống của tết ở miền Bắc xưa có lẽ vẫn là hình ảnh một bàn thờ tổ tiên với hương trầm quyện bay trong không khí ấm cúng. Theo truyền thống, tổ tiên và các đấng thần linh mặc dù được "định hình" là ở trên cao, không xác định, nhưng lại rất gần gũi với trần gian, luôn dõi theo và phù hộ cho con cháu ngày càng dài dòng, lớn họ, mùa màng bội thu, nên việc ứng xử với tổ tiên và thần linh luôn được chú trọng. Bàn thờ gia tiên luôn có những vật phẩm đặc trưng: bát hương, lư đỉnh xông trầm, cặp chân đèn, bên trái là lọ độc bình, bên phải là mâm ngũ quả (Đông bình, Tây quả). Theo phong tục còn đặt hai cây mía ở hai bên bàn thờ với quan niệm là những bậc thang để thần linh và tổ tiên về đón tết với con cháu.

Đêm trừ tịch (trừ: chuyển đổi giữa cái mới và cái cũ, tịch: đêm), mọi người cùng quây quần bên bữa cơm tất niên, chuẩn bị cho lễ đón giao thừa. Sau khi cúng đón giao thừa tại nhà, mọi người cùng nhau đi trẩy hội đêm giao thừa (nam giới đi ra đình làng cúng Thành hoàng làng, chúc tết các bậc cao niên và vui chơi; nữ giới đi viếng chùa, hái lộc).

Sáng mùng 1, mọi người thức dậy, tổ chức nấu nướng làm mâm cúng gia tiên, con cháu chúc tết ông bà và các tục mừng tuổi đầu năm, sau đó đi đến các nhà người thân chúc tết, không khí vui nhộn, ấm cúng. Ngày tết kéo dài thường cho đến mùng 7 với tục hạ cành nêu là lúc kết thúc lễ tết Nguyên đán, nhưng chủ yếu tập trung trong 3 ngày "Mùng một tết cha, mùng hai tết mẹ, mùng ba tết thầy".

"XUÂN YÊN BÌNH MIỀN TRUNG ẤM NO"

Với tính khắc nghiệt của thiên nhiên và thời tiết, hằng năm miền Trung trải qua mùa lũ lụt là bước vào đón năm mới với nhiều khó khăn. Tết miền Trung không cầu kỳ, nhưng vẫn mang đậm tính chất thờ cúng tổ tiên, gắn kết tình cảm thắm thiết giữa các thế hệ trong ngày sum vầy.

Đón xuân này nhớ tết xưa  - Ảnh 3.

Người Huế đi chợ tết năm 1923

Ảnh: ManhHaiFlickr

Ngày 23 tháng chạp, người miền Trung cũng có phong tục cúng ông Công, ông Táo, cũng gói bánh tét, dưa món, thịt, cá, gà, bò… Sắc đào đỏ thắm từ miền Bắc được thay bằng sắc mai vàng rực rỡ, sắc cúc mãn khai. Ban thờ tổ tiên được trang hoàng như mọi miền đất nước với mâm ngũ quả đặc trưng mang sắc thái của người miền Trung với ngũ sắc và những ước vọng tốt đẹp: phú - quý - thọ - khang - ninh.

Bàn thờ cúng tết của người miền Trung kiêng cúng trong nhà. Theo phong tục, lễ tiễn và đón quan hành khiển - những vị thần cai quản năm mới phải được thực hiện ngoài sân. Người miền Trung tin rằng nếu làm lễ trong nhà, thần linh sẽ không "ghé ngang", có thể khiến gia đạo cả năm thiếu may mắn, bị lỡ lộc đầu năm. Bữa cơm tất niên luôn đầy ắp đồ ăn, người già kể chuyện xưa, con cháu báo hiếu chuyện thành tích học hành, công việc hanh thông, tất cả truyền thống đong đầy rõ nét nhất trong ngày tết.

Ngày tết miền Trung ngoài mâm cơm sum họp gia đình là những ngày hội diễn ra gắn liền với yếu tố văn hóa biển và tinh thần thượng võ của vùng đất luôn có những biến động bởi thiên nhiên và chiến tranh: lễ hội cầu ngư, đấu vật, hội võ cổ truyền, đua thuyền… cùng nhiều hoạt động sinh hoạt văn hóa khác gắn liền với đời sống của bao lớp cư dân dựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra biển cả mênh mông. Vì luôn mong cho sự bình yên nên trong lời bài hát Xuân về miền Trung nổi tiếng của nhạc sĩ Minh Nhiên có câu: "Xuân đang về nơi đây tiếng reo mừng/Xuân yên bình miền Trung ấm no từng ngày".

"KÌA, MÙA XUÂN ĐANG ĐẾN TRƯỚC THỀM…"

Trong Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính kể chuyện tết ở Sài Gòn như đại diện cho tết ở Nam bộ: "Ở Sài Gòn, lâu nay nhiễm được tân hóa, mấy hôm tết nhiều nhà xử thanh đạm như thường. Tuy nhiên, thực ra không phải vậy, Nam bộ vẫn có cái tết Nguyên đán chứa đựng nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Đặc biệt là các khu vực nơi người Việt, người Hoa sinh sống quần tụ đông đúc".

Đón xuân này nhớ tết xưa  - Ảnh 4.

Thăm viếng ngày xuân, vùng chợ Đệm (Bình Chánh cũ, trước 1975)

Ảnh: Tam Thái

Tết Nam bộ cũng có tục thờ cúng ông Công, ông Táo vào ngày 23 tháng chạp. Ngoài trái cây, nhang đèn, hoa quả, người dân Nam bộ cũng có những nét đặc trưng văn hóa: chưng hoa mai vàng, gói bánh tét, bày mâm ngũ quả (cầu - dừa - đủ - xoài - sung) gắn liền với những ước vọng no đủ và ẩm thực đa dạng với nhiều món ăn như bánh tét, thịt kho trứng, canh khổ qua.

Sắc màu tết Nam bộ có lẽ đậm chất nhất là hình ảnh những chợ nổi trên sông hay những khu vực trên bến dưới thuyền với hình ảnh trái cây và sắc màu các loài hoa rực rỡ, gắn liền với không gian sinh thái sông nước. Người Nam bộ cũng có tục dựng nêu ngày tết (ở sân nhà, sân đình, chùa) và nấu chè. Dựng nêu là để xua đuổi tà ma không xâm phạm vùng đất của con người và nấu chè là mong muốn một cái tết ngọt ngào, đầm ấm. Trên cây nêu sẽ treo một cái giỏ (đựng trầu, cau, muối, gạo) và lá bùa Tứ tung. Nêu dựng ngày 30 tháng chạp lúc chạng vạng tối, khác với miền Bắc (buổi trưa), miền Trung (buổi chiều).

Lễ vật cúng giao thừa của người Nam bộ cũng có chút khác biệt. Theo đúng phong tục sẽ là: đầu heo luộc, gà trống luộc, xôi, chè, bánh tét, trái cây ngũ quả, hoa trang hoặc hoa vạn thọ, hoa sống đời, hai cây đèn cầy, giấy tiền vàng bạc, một trái dừa tươi và đặc biệt phải kèm thêm bắp cải thảo. Ngoài những món ăn mang tính truyền thống, không thể không kể tới các món ăn kèm theo như dưa kiệu, lạp xưởng, bánh tráng và khô. Bên cạnh đó, là mứt bí, mứt dừa, mứt khoai lang… Tới thời khắc giao thừa, gia chủ sẽ đốt đèn cầy, đốt nhang và khấn cho một năm mới với nhiều ước vọng no đủ.

Mùng 1 sẽ là ngày mà người phương nam cúng tết nhà và lễ Chính đán. Người dân Nam bộ cũng có một tục cúng tết vườn vào mùng 3 tết. Đây là nghi lễ cúng ông chuồng bà chuồng, ông vườn bà vườn, cúng thổ thần vì đã trông coi cho vườn tược của mình quanh năm vất vả. Đó là lời cám ơn và cũng là mong muốn sang năm mọi việc vẫn diễn ra hanh thông, tốt đẹp. Tuy nhiên, tục lệ này dường như còn ít tồn tại trong lòng cư dân Nam bộ bởi nhiều yếu tố khác nhau.

Người Nam bộ rất coi trọng ông bà tổ tiên của những gia đình khác. Khi đi chúc tụng nhau dịp tết, trước hết phải thắp nhang trên bàn thờ tổ tiên ở nhà đó, sau dùng bữa với gia đình. Nam bộ có lệ hễ khách tới nhà chơi thì gia chủ sẽ dọn cơm ra thết đãi nồng hậu, cùng nhau ăn uống vui vầy. Đáng chú ý là người dân phương Nam thường quan niệm, tết là no đủ, cho nên nhà nhà phải luôn đổ đầy các hũ muối và gạo. Đêm đón giao thừa, mọi người sẽ mặc sẵn quần áo mới và bỏ một ít tiền vào túi để cả năm tiền bạc đều rủng rỉnh.

Ở phía nam, tết được gọi là "đón tết", "ăn tết", do đặc điểm địa lý và khí hậu, tiết trời ổn định, mùa vụ ít có đổi thay, người dân Nam bộ đi chơi xuân là "chơi tết", vì thế ít có sinh hoạt gia đình hơn, thay vào đó là vui chơi, vãn cảnh, thăm viếng chùa, đến các khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, thưởng ngoạn…, tạo nên một cái tết mang đặc trưng phương Nam.

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.