
PGS-TS Bùi Hoài Sơn
ẢNH: NVCC
Nhìn lại nửa năm thực hiện Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa VN, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định có một khoảng trống là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia; trong đó, kho tàng di sản chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung. Theo ông, kho tài sản số về di sản nên có hình dáng, định dạng và được sử dụng như thế nào?
PGS-TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, trước hết cần nhận thức rằng kho tài sản số về di sản không nên chỉ là một "nhà kho điện tử". Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã lưu ý rất rõ: một di sản không thể được coi là đã số hóa chỉ vì được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin. Dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng.
Vì vậy, "ngân hàng dữ liệu (NHDL) di sản quốc gia" cần được thiết kế như một hạ tầng tri thức và sáng tạo quốc gia, gồm nhiều lớp. Lớp thứ nhất là dữ liệu gốc có độ chính xác cao: hồ sơ khoa học, hình ảnh, âm thanh, bản đồ, mô hình 3D, tư liệu lịch sử, lời kể của nghệ nhân... Đây là lớp dữ liệu phục vụ bảo tồn lâu dài, phải được lưu trữ an toàn và kiểm chứng nghiêm ngặt.
Lớp thứ hai là hệ thống dữ liệu đã được chuẩn hóa, có mã định danh, tình trạng bản quyền và mức độ được phép khai thác. Các cơ sở dữ liệu của địa phương, bảo tàng, thư viện, trung tâm lưu trữ và cơ sở nghiên cứu phải có khả năng kết nối, liên thông với hệ thống quốc gia, thay vì mỗi nơi xây dựng một kho riêng, sử dụng một tiêu chuẩn riêng.
Lớp thứ ba là dữ liệu phục vụ công chúng, giáo dục, nghiên cứu, du lịch và sáng tạo. Dữ liệu có thể được cung cấp qua cổng thông tin mở, bản đồ số, bảo tàng số, thư viện số hoặc giao diện lập trình để trường học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp (DN) công nghệ và các nhà sáng tạo có thể tiếp cận, phát triển sản phẩm mới.
Lớp thứ tư đặc biệt quan trọng là lớp quản lý quyền. Mỗi dữ liệu phải cho biết rõ nội dung nào được tự do sử dụng, nội dung nào phải xin phép, nội dung nào phải trả phí, nội dung nào chỉ được sử dụng cho giáo dục, nghiên cứu; nội dung nào cần hạn chế tiếp cận vì liên quan đến bí mật cộng đồng, tín ngưỡng, quốc phòng, an ninh hoặc quyền riêng tư.
Như vậy, NHDL di sản phải vừa là nơi lưu giữ ký ức dân tộc, vừa là "nguyên liệu đầu vào" cho giáo dục, khoa học, du lịch, điện ảnh, thiết kế, thời trang, xuất bản, trò chơi điện tử, hoạt hình và trí tuệ nhân tạo (AI). Nghị quyết 80 cũng đặt ra yêu cầu xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, nền tảng số dùng chung, chuẩn hóa và số hóa toàn diện di sản, đồng thời bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hóa số.
Điều quan trọng nhất là dữ liệu phải được đưa vào sử dụng. Một kho dữ liệu dù rất lớn nhưng đóng kín, khó tìm kiếm, không có cơ chế cấp quyền và không thể tái sử dụng thì vẫn chỉ là một kho lưu trữ, chưa thể trở thành tài sản phát triển.
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết 80, theo ông, đâu là những thay đổi về tư duy khai thác di sản mà địa phương cần hướng tới?
Theo tôi, sự thay đổi quan trọng nhất là chuyển từ tư duy "giữ di sản" sang "làm cho di sản tiếp tục sống", từ bảo tồn đơn thuần sang kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và sáng tạo. Đây cũng là một trong ba chuyển dịch lớn được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn phải tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.
Trước hết, địa phương cần chuyển từ kiểm kê số lượng sang nhận diện giá trị và khả năng chuyển hóa của từng di sản. Không chỉ đặt câu hỏi địa phương có bao nhiêu di tích, lễ hội hay nghệ nhân, mà phải đặt câu hỏi: di sản này chứa đựng câu chuyện gì; có thể trở thành nội dung giáo dục, du lịch, thiết kế, điện ảnh, âm nhạc như thế nào; thị trường và công chúng ở đâu?

Khách trong và ngoài nước tham gia trải nghiệm những nghề truyền thống tại Bảo tàng TP.HCM
ẢNH: QUỲNH TRÂN
Thứ hai, cần chuyển từ khai thác từng di sản riêng lẻ sang xây dựng chuỗi giá trị và hệ sinh thái. Một làng nghề không chỉ bán sản phẩm thủ công mà có thể gắn với không gian trải nghiệm, thiết kế đương đại, thương mại điện tử, du lịch cộng đồng, đào tạo nghề và xây dựng thương hiệu địa phương.
Thứ ba, cần chuyển từ tư duy nhà nước làm tất cả sang tư duy kiến tạo và hợp tác. Chính quyền bảo đảm thể chế, quy hoạch, môi trường sáng tạo; DN tổ chức sản xuất, phân phối; các trường ĐH, nghệ sĩ, nhà thiết kế và DN công nghệ tạo ra sản phẩm; cộng đồng và nghệ nhân giữ vai trò trung tâm trong việc xác định giá trị, giới hạn và phương thức phát huy di sản.
Cách đánh giá hiệu quả cũng phải thay đổi. Không nên chỉ đo bằng số lượng hồ sơ được số hóa, lượng khách tham quan hoặc số sự kiện được tổ chức. Chúng ta phải đo bằng số sản phẩm sáng tạo được hình thành, giá trị bản quyền, doanh thu, việc làm, mức hưởng lợi của cộng đồng, khả năng truyền dạy cho thế hệ trẻ và mức độ lan tỏa của hình ảnh địa phương.
Nói cách khác, di sản là một hệ sinh thái sống: càng được bảo tồn đúng cách, sáng tạo có trách nhiệm và chia sẻ lợi ích công bằng thì càng có khả năng tạo ra những giá trị mới.
Khi đã có trong tay một kho tài sản số về di sản, chúng ta nên làm gì để biến di sản thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, đặc biệt là về khung pháp luật cho việc sử dụng kho tài sản này?
Để NHDL thực sự trở thành nguồn nguyên liệu cho công nghiệp văn hóa, cần tiếp tục cụ thể hóa một số vấn đề. Trước hết, phải làm rõ địa vị pháp lý của từng loại tài sản. Sau đó, cần xây dựng cơ chế cấp phép sử dụng dữ liệu theo các mức độ khác nhau: cho giáo dục và quảng bá, thương mại (có thể áp dụng phí bản quyền), và dữ liệu nhạy cảm đặc thù (bí mật tín ngưỡng, quyền riêng tư…) phải được khai thác có điều kiện. Tinh thần chung phải là mở để sáng tạo nhưng không thả nổi; bảo hộ để cộng đồng được hưởng lợi nhưng không đóng kín di sản.
Có thể nghiên cứu hình thành một cổng cấp phép số thống nhất, giúp người sáng tạo và DN tra cứu ngay tình trạng pháp lý, gửi đề nghị sử dụng, ký hợp đồng, thanh toán và ghi nhận nghĩa vụ chia sẻ lợi ích. Cơ chế này phải đơn giản, minh bạch, có thời hạn xử lý rõ ràng.
Thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, tác giả, nhà nghiên cứu, đơn vị số hóa và DN. Đây cũng là yêu cầu được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra khi đề nghị hoàn thiện cơ chế xác lập, bảo hộ, quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với tài sản văn hóa được số hóa. Một phần nguồn thu từ hoạt động khai thác thương mại cần được hoàn trả cho cộng đồng, phục vụ truyền dạy, bảo tồn và cải thiện đời sống của nghệ nhân.
Với thời đại AI, cần tạo khung pháp lý cho việc sử dụng dữ liệu di sản để huấn luyện AI. Cũng cần cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những mô hình mới như bảo tàng thực tế ảo, trò chơi sử dụng chất liệu lịch sử, thời trang lấy cảm hứng từ hoa văn truyền thống hay nền tảng AI văn hóa VN.
Đích đến cuối cùng không phải là có một kho dữ liệu thật lớn, mà là từ kho dữ liệu ấy hình thành được tri thức mới, tài sản trí tuệ mới, DN sáng tạo mới và những sản phẩm văn hóa đủ sức kể câu chuyện VN một cách hấp dẫn với công chúng trong nước và thế giới.
Bình luận (0)