Tại buổi họp báo thông tin về tình hình kinh tế - xã hội quý 3 năm 2026 sáng 23.10, đại diện Sở Nông nghiệp - Môi trường thành phố Đà Nẵng đã thông tin về nguyên nhân chênh lệch giá nước sạch giữa 2 khu vực (Quảng Nam cũ, Đà Nẵng cũ) sau sáp nhập và các giải pháp để từng bước điều chỉnh tình hình.
Theo đại diện Sở Nông nghiệp - Môi trường, sự khác biệt về giá nước xuất phát từ điều kiện sản xuất, quy mô và hiệu suất khai thác công trình, sản lượng nước thương phẩm cũng như đặc điểm mạng lưới cấp nước tại từng địa phương.

Nhà máy nước Tam Kỳ ở phía nam thành phố Đà Nẵng
ẢNH: MẠNH CƯỜNG
Cụ thể, tại khu vực Quảng Nam cũ, một số công trình cấp nước đô thị còn mở rộng phục vụ khu vực nông thôn. Do dân cư phân bố không tập trung, khoảng cách giữa các khu dân cư lớn, các đơn vị phải đầu tư, duy trì mạng lưới đường ống dài để đưa nước đến người dân. Điều này làm tăng chi phí đầu tư, quản lý, vận hành, duy tu, sửa chữa và xử lý thất thoát nước trên mỗi đơn vị sản lượng.
Bên cạnh đó, công suất khai thác và sản lượng nước thương phẩm thực tế tại một số hệ thống còn thấp hơn công suất thiết kế. Việc một bộ phận người dân vẫn sử dụng nước giếng khoan, giếng đào cũng khiến lượng khách hàng sử dụng nước từ hệ thống cấp nước tập trung chưa ổn định, làm tăng chi phí bình quân trên mỗi mét khối nước.
Trong khi đó, khu vực trung tâm Đà Nẵng có mật độ dân cư cao, nhu cầu sử dụng nước lớn và sản lượng nước thương phẩm cao. Nhờ vậy, chi phí cố định của hệ thống được phân bổ trên sản lượng lớn hơn, góp phần giảm giá thành bình quân.
Đại diện Sở Nông nghiệp - Môi trường cho biết việc xây dựng giá nước sạch phải tuân thủ quy định pháp luật, bảo đảm tính đúng, tính đủ các chi phí sản xuất hợp lý, đồng thời phù hợp với điều kiện hạ tầng cấp nước, thu nhập của người dân và chất lượng dịch vụ tại từng địa phương.
Theo quy định, các đơn vị cấp nước có trách nhiệm lập phương án giá tiêu thụ nước sạch theo từng vùng phục vụ, gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm định, trình UBND thành phố xem xét, quyết định.
Vì vậy, việc thống nhất giá nước sau sáp nhập phải được thực hiện trên cơ sở phương án giá của các đơn vị và điều kiện cung ứng nước thực tế, không thể áp dụng ngay một mức giá đồng loạt cho toàn thành phố.
Đại diện Sở Nông nghiệp - Môi trường cho biết UBND thành phố Đà Nẵng đã yêu cầu việc xây dựng phương án giá nước phải bảo đảm mức chênh lệch không quá lớn giữa các đơn vị cấp nước và các khu vực trên địa bàn. Mục tiêu là góp phần tăng tỷ lệ đấu nối, nâng tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch thông qua hệ thống cấp nước tập trung.
Hiện các đơn vị cấp nước đang triển khai xây dựng phương án theo yêu cầu của thành phố. Dự kiến, phương án giá nước mới sẽ được xem xét trong thời gian sớm nhất.
Thực tế, mức chênh lệch giá nước giữa 2 khu vực hiện khá lớn. Tại khu vực Đà Nẵng cũ, theo biểu giá của Công ty CP cấp nước Đà Nẵng (DAWACO) áp dụng từ ngày 1.1.2025, giá nước sinh hoạt bậc 1 (từ 1 - 10 m³) là 4.550 đồng/m³, bậc 2 (11 - 30 m³) là 5.460 đồng/m³, bậc 3 (từ 31 m³ trở lên) là 6.810 đồng/m³.
Đối với các nhóm khách hàng khác, giá nước tại khu vực này lần lượt là 7.750 đồng/m³ đối với đơn vị hành chính sự nghiệp, 10.100 đồng/m³ đối với sản xuất và 15.350 đồng/m³ đối với kinh doanh, dịch vụ.
Trong khi đó, tại khu vực Quảng Nam cũ, biểu giá của Công ty CP cấp thoát nước Quảng Nam quy định giá nước sinh hoạt bậc 1 (từ 0 - 10 m³) là 8.954 đồng/m³, bậc 2 (trên 10 - 20 m³) là 11.177 đồng/m³, bậc 3 (trên 20 - 30 m³) là 13.400 đồng/m³, bậc 4 (trên 30 m³) là 15.624 đồng/m³.
Giá nước đối với đơn vị hành chính sự nghiệp tại khu vực Quảng Nam cũ là 13.400 đồng/m³, nhóm sản xuất là 14.265 đồng/m³ và nhóm kinh doanh, dịch vụ là 18.959 đồng/m³.










Bình luận (0)