Lịch sử giáo xứ Hà Dừa gắn liền với những cuộc dịch chuyển dân cư lớn từ đầu thế kỷ 18. Ngược dòng thời gian về những năm 1720 - 1730, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, một làn sóng lưu dân từ vùng Ngũ Quảng gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Huế ngày nay), Quảng Nam, Quảng Ngãi, xuôi Nam khai phá. Khi dừng chân bên bờ sông Cái Nha Trang, nhận ra địa thế thuận lợi và sự trù phú của vùng đất Diên Khánh, họ đã lập nên thôn Trường Thạnh và đặt những viên gạch văn hóa đầu tiên cho giáo xứ Hà Dừa.
Cái tên Hà Dừa mang đậm dấu ấn của địa danh học thực địa: "Hà" là sông, "Dừa" là dừa nước. Thuở ấy, đôi bờ nhánh sông Cái mọc đầy những rặng dừa nước xanh ngắt, tạo nên hành lang tự nhiên che chắn cho các khu dân cư. Giáo xứ Hà Dừa đã đi qua hơn ba thế kỷ, hiện diện từ trước cả khi danh tướng Võ Tánh cho xây dựng Thành cổ Diên Khánh vào năm 1793. Tuy nhiên, diện mạo kiến trúc đồ sộ của nhà thờ Hà Dừa mà chúng ta chiêm ngưỡng ngày nay lại gắn liền với tâm huyết của các vị chủ quản người Pháp. Trong ký ức của giáo dân, họ được gọi bằng cái tên đầy kính trọng: các Cố.

Nhà thờ Hà Dừa tại Diên Khánh (Khánh Hòa)
ẢNH: BÁ DUY
Những vị tiền nhân này không chỉ mang đến kỹ nghệ xây dựng phương Tây mà còn dành cả cuộc đời để thấu cảm phong thổ vùng đất này. Đó là Cố Bửu (linh mục Geffroy), người đặt nền móng cho hệ thống cổng lầu độc đáo vào năm 1870; Cố Ngoan (linh mục Saulcoy), người trực tiếp khởi công ngôi thánh đường hiện tại vào năm 1897; Cố Quới (linh mục Salomez), người đã hoàn thiện tháp chuông cùng nhà xứ vào năm 1917. Sự tiếp nối của các vị Cố qua từng giai đoạn đã biến Hà Dừa thành biểu tượng kiến trúc không thể tách rời của xứ Trầm Hương.
Kiến trúc Gothic và những đỉnh tháp thanh thoát vươn tới trời xanh
Ngôi thánh đường hiện hữu là thành tựu kiến trúc tiêu biểu, được hình thành qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên bắt đầu vào năm 1897, tập trung vào việc tạo dựng khối nhà chính với các chi tiết chạm trổ tỉ mỉ. Phải mất tròn 20 năm sau, đến năm 1917, tháp chuông uy nghi và các hạng mục phụ trợ mới được hoàn tất. Đây là giai đoạn kiến trúc Gothic phương Tây bắt đầu có sự chuyển biến và thích nghi rõ rệt khi đặt chân vào không gian văn hóa VN.
Dưới góc độ hình khối, điểm ấn tượng nhất của nhà thờ Hà Dừa chính là sự thanh thoát của các đường nét được hiển lộ rõ ràng qua sắc vôi xanh nhạt pha trắng. Việc chăm chút cho diện mạo công trình hiện hữu giúp các hệ thống gờ chỉ, các phù điêu trang trí và kỹ thuật xây dựng vòm cuốn chuẩn xác trở nên tường minh hơn dưới ánh sáng mặt trời. Những chi tiết này tạo nên những mảng sáng tối tương phản, làm nổi bật cấu trúc hình học mạch lạc và sự vững chãi của một công trình đã đi qua hơn một thế kỷ.

Kiến trúc của nhà thờ Hà Dừa là sự giao thoa Đông - Tây
ẢNH: BÁ DUY
Điểm độc đáo tạo nên nét riêng cho Hà Dừa chính là hệ thống các tháp phụ nhô cao dọc theo thân công trình và tháp chuông. Những đỉnh tháp nhọn này vươn thẳng lên trời xanh, tạo nên một nhịp điệu kiến trúc đầy sức sống và thoát tục.
Người dân địa phương thường có cách ví von dung dị khi gọi những tháp nhọn này là các "cây bút chì" khổng lồ đang viết lên nền trời. Chính những chi tiết này đã làm giảm bớt cảm giác nặng nề của khối gạch đá đồ sộ, tạo ra một lực đẩy thị giác hướng ánh nhìn của người quan sát lên cao, mang lại vẻ nhẹ nhàng giữa không gian làng quê yên bình.
Bên cạnh đó, phần mái của công trình là kiệt tác về nghệ thuật sắp xếp vật liệu. Nhìn từ trên cao, hệ thống ngói màu được thiết kế theo họa tiết hình thoi đa sắc trông như một tấm thảm dệt tinh xảo trải dài dọc theo chiều dài mái. Đây là minh chứng cho sự tỉ mỉ của các nghệ nhân, khi từng viên ngói đều được tính toán để tạo nên một vũ điệu màu sắc thống nhất, vừa có khả năng phản xạ nhiệt tốt dưới cái nắng miền Trung, vừa tạo nên vẻ thẩm mỹ đặc hữu mà hiếm công trình nào ở vùng hạ lưu sông Cái có được.

Những tháp nhọn được người địa phương gọi là các “cây bút chì” khổng lồ
ẢNH: BÁ DUY
Sự giao thoa Đông - Tây và sức sống của một di sản kiến trúc
Vượt lên trên một công trình mang phong cách phương Tây đơn thuần, Hà Dừa là ví dụ điển hình cho sự giao thoa văn hóa đầy tinh tế giữa kiến trúc Gothic và tinh thần bản địa. Điều này thể hiện rõ nhất ở hệ thống hai cửa ngõ lầu được xây dựng từ năm 1870. Thay vì sử dụng lối vào dạng vòm nhọn thường thấy ở các giáo đường châu Âu, các vị tiền nhân đã khéo léo thiết kế cổng theo dạng lầu chuông mang đậm hơi hướm phương Đông, với mái ngói âm dương và những đường gờ uốn lượn đặc trưng của các phủ đệ phong kiến xưa.
Sự hiện diện của hai chiếc cổng này ngay lối vào một cấu trúc phương Tây tạo nên một sự đối thoại về mặt không gian rất thú vị: uy nghiêm nhưng lại vô cùng gần gũi với thị giác của cư dân địa phương.
Sự thích nghi với đặc điểm khí hậu còn len lỏi vào từng chi tiết ở hàng hiên bên hông. Hệ thống hàng hiên rộng với những cột vuông vững chãi không chỉ giúp ngăn bức xạ nhiệt trực tiếp vào bên trong mà còn tạo ra một không gian đệm thoáng đạt. Tại đây, những chiếc đèn lồng nhiều màu sắc được treo dọc lối đi, kết hợp với hệ thống cửa sổ lá sách trắng, loại cửa giúp lấy gió tự nhiên tối đa và che chắn nắng mưa hiệu quả.

Hệ thống ngói màu được thiết kế theo họa tiết hình thoi đa sắc trông như một tấm thảm dệt tinh xảo
ẢNH: BÁ DUY
Khi ánh nắng chiều hắt qua hàng cột, tạo nên những bóng đổ dài trên mặt sàn sạch sẽ, cả không gian như ngưng đọng trong một vẻ đẹp điện ảnh, nơi mà kỹ thuật xây dựng phương Tây được mềm hóa bởi tinh thần trang trí phương Đông ấm cúng.
Sự trường tồn của nhà thờ Hà Dừa không chỉ nằm ở những khối gạch đá có niên đại hơn một thế kỷ, mà còn ở cách nó hòa nhập vào dòng chảy đời sống đương đại một cách tự nhiên. Giá trị nguyên bản của hình khối và tinh thần kiến trúc vẫn được bảo toàn nguyên vẹn qua các giai đoạn trùng tu, gìn giữ.
Trong dòng chảy của nghiên cứu di sản và du lịch văn hóa hiện đại, nhà thờ Hà Dừa xứng đáng là một điểm dừng chân sâu sắc cho những ai muốn tìm hiểu về sự thích nghi của nghệ thuật kiến trúc thế giới trên nền tảng văn hóa Việt. (còn tiếp)
Bình luận (0)