Sự kiện này không chỉ là một mốc son trong biên niên sử dân tộc, mà dưới lăng kính lý luận cách mạng hiện đại, đó chính là điểm khởi đầu mang tính chiến lược cho sự hình thành của một chân dung vĩ đại - Nhà cách mạng chuyên nghiệp Hồ Chí Minh.
Kiên định lý tưởng - chọn lối đi riêng giữa dòng lịch sử
Hành trình trở thành một Nhà cách mạng chuyên nghiệp luôn là một con đường xuyên suốt và nhất quán, gắn liền với 3 bước đi lớn: Tìm đường, Vạch đường và Dẫn đường. Đầu tiên là lên đường dấn thân vào thực tiễn để tìm ra con đường đúng đắn; tiếp theo là vạch ra hướng đi, chiến lược cụ thể cho phong trào; và cuối cùng là đứng ở vai trò người lãnh đạo để dẫn dắt nhân dân đi đến thắng lợi.
Vào đầu thế kỷ 20, phong trào yêu nước Việt Nam rơi vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Đêm tối bao trùm xứ sở khi các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế lần lượt thất bại. Các bậc tiền bối tâm huyết như cụ Phan Bội Châu chọn hướng sang phương Đông, gửi gắm hy vọng vào sự đồng văn, đồng chủng của Nhật Bản; cụ Phan Châu Trinh chọn con đường cải cách, dựa vào chính nền dân chủ của nước Pháp để khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Giữa bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành đã có một quyết định hoàn toàn khác biệt và mang tính lịch sử - hướng thẳng sang phương Tây, đến chính sào huyệt của kẻ đang đô hộ đất nước mình. Người muốn xem nước Pháp và các nước phát triển khác vận hành ra sao; tự do, bình đẳng, bác ái của họ như thế nào, để rồi quay về giúp đỡ đồng bào.
Đó không phải là sự lựa chọn ngẫu hứng của một người trẻ tuổi, mà là kết quả của một tư duy độc lập và một lý tưởng kiên định. Mục tiêu cốt lõi của Người vô cùng rõ ràng và bất biến: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi". Lý tưởng ấy như ngọn hải đăng xuyên qua sương mù lịch sử, giúp Người không bị lạc hướng, không bị cám dỗ bởi sự phồn hoa hay những ảo tưởng chính trị nhất thời nơi xứ người.

Tranh cổ động của UBND xã Bến Lức – tỉnh Tây Ninh
"Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất
Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre"
(Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên)
Bước chân xuống tàu năm 21 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã mang tầm vóc của một nhà cách mạng chuyên nghiệp tương lai: Không rập khuôn, không giáo điều, nhìn thẳng vào thực tiễn và lấy lợi ích tối cao của dân tộc làm thước đo duy nhất.
Nghị lực vượt khó phi thường trước 2 rào cản lớn
Hành trình của Người không được trải bằng nhung lụa hay những khoản tài trợ. Đó là hành trình của một người lao động cô đơn chống chọi với nghịch cảnh thế kỷ, mà ở đó, 2 trở ngại lớn nhất là: kinh phí, trình độ học vấn và khác biệt văn hóa, ngôn ngữ
Bản lĩnh vượt qua rào cản tài chính từ 2 bàn tay trắng
Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước với hành lý vỏn vẹn là lòng yêu nước và đôi bàn tay trắng. Không có tổ chức hay cá nhân nào bảo trợ cho hoạt động này của Người. Câu nói lịch sử khi Người trả lời bạn mình trước chuyến đi: "Đây, tiền đây!" - vừa nói vừa giơ hai bàn tay, chính là tuyên ngôn về tinh thần tự lực cánh sinh.
Để có thể duy trì hành trình tìm đường, Người đã chấp nhận làm bất cứ công việc chân tay nặng nhọc nào: từ phụ bếp dưới boong tàu nóng bức, quét tuyết giữa mùa đông Paris, đốt lò ở London, đến rửa ảnh, bán báo... Người đã biến lao động kiếm sống thành phương tiện để thực hiện lý tưởng cách mạng. Tinh thần ấy chứng minh một chân lý: khi lý tưởng đủ lớn, mọi thiếu thốn về vật chất chỉ là thuốc thử cho lòng kiên trung.
Xóa bỏ khoảng cách học vấn, ngôn ngữ và văn hóa
Là một thanh niên lớn lên trong cái nôi của Nho học phương Đông, việc bước vào thế giới phương Tây hiện đại đòi hỏi có sự tái cấu trúc hoàn toàn về tư duy. Rào cản đầu tiên là ngôn ngữ. Không có trường lớp chính quy, Người tự học tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga bằng cách viết từ mới lên bàn tay khi làm việc, học qua sách báo và qua những buổi tranh luận của công nhân.
Người học không phải để lấy tấm bằng hàn lâm vinh thân phì gia, mà học để chiếm lĩnh công cụ tư duy của nhân loại, dùng chính ngôn ngữ của kẻ thù để đấu tranh trực diện với kẻ thù. Từ một người phụ việc, Người đã trở thành cây bút sắc bén của tờ báo Le Paria, tự mình viết những bản yêu sách gửi tới Hội nghị Versailles. Khát vọng tri thức và năng lực tự học phi thường đã giúp Người san lấp mọi khoảng cách về học vấn để đứng ngang hàng với các nhà tư tưởng tiến bộ thế giới.
"Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá
Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ
Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?"
(Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên)
Ánh sáng của con đường giải phóng dân tộc
Sau gần 10 năm bôn ba qua nhiều châu lục, thấu hiểu tận cùng nỗi khổ của giai cấp lao động dù ở chính quốc hay thuộc địa, hành trình tìm đường của Nguyễn Tất Thành đã đạt tới bước ngoặt vĩ đại vào tháng 7.1920. Khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin.
"Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
...Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc
"Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!"
(Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên)
Luận cương của Lênin đã giải đáp cho người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Đó là giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là đích đến hoàn mỹ của chặng tìm đường, đồng thời tạo tiền đề nhảy vọt cho 2 chặng tiếp theo: vạch đường - chuẩn bị lý luận, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và dẫn đường - lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và 2 cuộc kháng chiến trường kỳ đến ngày đất nước thống nhất 30.4.1975.
Sự kiện 5.6.1911 vì thế không dừng lại ở một chuyến đi tìm đường sống, mà là hành trình mang tính quy luật của một nhà cách mạng chuyên nghiệp - đi vào thực tiễn, thấu suốt bản chất, tiếp thu lý luận khoa học để quay lại cải tạo thực tiễn đất nước.
Bài học cho cán bộ, đảng viên trong áp lực tinh gọn bộ máy hiện nay
Hành trình tìm đường năm 1911 của Nguyễn Tất Thành mang giá trị thời đại sâu sắc, là tấm gương soi chiếu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hôm nay, đặc biệt là những người đang trực tiếp vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Việc chuyển đổi và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đặt lên vai đội ngũ cán bộ cơ sở một khối lượng công việc khổng lồ, đa diện và phức tạp. Áp lực từ tiến độ, từ sự mong mỏi của người dân, cùng với những rào cản về cơ chế chính sách chưa đồng bộ đôi lúc đã tạo ra tâm lý mệt mỏi, quá tải. Thực tế cho thấy, đã có những biểu hiện sa sút ý chí, tư tưởng "né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm" hay co cụm ở một bộ phận cán bộ.
Đối chiếu với bước chân đầu tiên của nhà cách mạng chuyên nghiệp Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay cần khắc sâu 3 bài học thực tiễn:
Kiên định ý thức phụng sự nhân dân để chế ngự áp lực tinh thần. Khi đối diện với khối lượng công việc tăng lên gấp bội, nếu không có một lý tưởng trong sáng và cái tâm phụng sự vô điều kiện như Bác năm xưa, người cán bộ rất dễ nản lòng. Áp lực của chính quyền tinh gọn phải được nhìn nhận như một môi trường rèn luyện bản lĩnh. Cán bộ phải tự vượt qua "vùng an toàn" của bản thân, xem khó khăn là thước đo năng lực bản thân.
Chủ động tìm đường, sáng tạo trong thực thi công vụ. Thay vì thụ động chờ đợi hay đổ lỗi cho hoàn cảnh thiếu thốn nguồn lực, cán bộ cần chủ động tìm đường và sáng tạo trong thực thi công vụ, nhất là khi địa phương triển khai những cơ chế mới chưa từng có tiền lệ. Học Bác ở tinh thần dấn thân, mỗi đảng viên phải phát huy tư duy sáng tạo, chủ động nghiên cứu, tìm đường tháo gỡ khó khăn cho cơ sở trong phạm vi thẩm quyền, thay vì tư duy lối mòn hay đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên.
Không ngừng nâng tầm tri thức và năng lực thực tiễn. Mô hình quản trị hiện đại đòi hỏi người cán bộ không thể bằng lòng với vốn kiến thức cũ. Tinh thần tự học ngôn ngữ, tự học lý luận của Bác là bài học lớn cho việc tự nâng cao năng lực công nghệ, pháp lý và kỹ năng quản lý hiện đại của cán bộ ngày nay. Học và làm phải đi đôi, lấy sự hài lòng và ấm no của nhân dân làm đích đến cuối cùng cho mọi chính sách.
Khó khăn, áp lực của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn chuyển đổi mô hình quản lý hiện nay là rất lớn, nhưng chắc chắn không thể so sánh với muôn trùng gian khổ, thiếu thốn và hiểm nguy mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trải qua năm 1911.
Kỷ niệm 115 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên xốc lại tinh thần, tự soi, tự sửa. Muốn vạch đường cho phong trào cơ sở phát triển, muốn đủ uy tín để dẫn đường nhân dân, trước hết mỗi người phải thắng được tâm lý sợ khó, ngại khổ của bản thân.
Đó mới chính là hành động thiết thực nhất để tiếp nối tinh thần của chuyến đi lịch sử cách đây hơn một thế kỷ.
Bình luận (0)