Hoa lê trắng bên bờ Sầu Vắng - Truyện ngắn của Dương Bình Nguyên

18/02/2026 09:00 GMT+7

Dòng Sầu Vắng nghìn đời vẫn lầm lì chảy qua bản. Đến khúc ngoặt dưới chân núi, nước tụ lại, xanh thẫm và sâu, đứng trên con đường đá nhìn xuống đã thấy lạnh dội lên tận gan bàn chân.

Con đường chỉ vừa hai bước người, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là khoảng nước hun hút không nhìn thấy đáy. Mùa đông, sương xuống dày, đi qua phải thật chậm, không hẳn vì sợ trượt, mà vì sương làm mỏi mắt, nhìn lâu là hoa lên như khói bếp vướng trong đầu.

Bản nằm thấp trong thung lũng. Nhà tường đá hộc nâu xám, mái ngói âm dương nối nhau, nhìn xa như những toa tàu cũ ngủ quên. Sáng sớm, khói bếp bốc lên chậm, quyện vào sương, mùi sắn luộc lan khắp bãi sông. Trâu dưới nhà thở phì phò đầy hơi trắng, người trên sàn cũng tỉnh giấc theo tiếng mõ lóc cóc dưới sàn.

Nhà Lả sát bờ sông. Ban ngày Lả làm thợ bạc, tối về thắp đèn đọc sách. Những cuốn sách cũ, giấy ố, chữ mờ như mắt người già. Sách ấy từ thời nào, không ai rõ. Chỉ biết khi còn sống, cha Lả giữ rất kỹ, gói trong vải, đặt trên bàn thờ. Có người bảo Lả học chữ từ cha để lại. Người lại nói Lả được trời chọn, nên chữ tự ngấm vào người. Lâu dần, không ai hỏi nữa. Trong bản có việc cần chữ, người ta ghé nhà ấy.

Lả sống một mình, ít qua lại. Rượu lâu mới một bữa say, gái ghẹo mãi mới cười một miệng. Đầy một bụng chữ nhưng Lả không dạy học. Lả chỉ viết khi được gọi nhờ. Viết tên trẻ con mới sinh. Viết câu chúc tết. Viết giấy cúng. Chữ viết xong, gấp lại, trao cho người, không giữ, cũng không dặn dò. Người trong bản bảo nhau, nhà Lả có chữ, nên mùa nào thức nấy, mang đến cho, đi ngang thường lén nhìn vào, ngưỡng vọng một chút, rồi đi mất.

Hoa lê trắng bên bờ Sầu Vắng - Truyện ngắn của Dương Bình Nguyên - Ảnh 1.

Minh họa: Tuấn Anh

Sạp bạc đặt sát hiên. Những chiếc vòng cũ, dây chuyền xỉn màu, xà tích đứt sợi được xếp trên mâm gỗ. Lả làm chậm, lặp đi lặp lại, như lửa trong lò, không phừng lên mà cũng không bao giờ lụi. Tay anh lúc nào cũng lạnh, kể cả khi đã ngồi lâu bên bễ. Những chiếc vòng sửa xong được đặt ngay ngắn, chờ người đến lấy. Có những chiếc chờ mãi, bạc sáng lên rồi lại xỉn đi theo ngày, mà người gửi không bao giờ quay lại.

Sát bên xoáy nước là một bãi cát nhỏ, có gốc lê già. Mùa hè, trâu từ trên núi hay chạy xuống tắm, thành một vệt mòn dài như sống dao. Gốc lê già lắm rồi, thân sần sùi, rễ trồi khỏi mặt đất trước khi lặn xuống bùn. Mỗi năm nó nở hoa một lần. Có năm nở muộn. Có năm không nở. Người trong bản đi qua vẫn đặt chân lên rễ mà bước, không dừng lại. Nội thường ngồi giặt áo dưới gốc. Trời lạnh, đôi bàn tay đỏ ửng, nước sông ăn vào da buôn buốt. Những hôm sương phủ kín, đứng từ bờ này chỉ thấy một dáng người mờ xa, như nhìn một thói quen.

Chợ phiên cuối năm họp trên bãi đất rộng bên bờ sông. Hết chợ, bãi ấy lại thành sân đá bóng, thành chỗ trai gái tìm nhau trêu ghẹo, thành nơi mở hội tết cả đầu năm. Người từ các bản quanh núi kéo về, nên bãi đất vây bằng đá hộc ấy trở thành điểm hẹn, người với người, nợ nần gì nhau cũng hẹn ngày mà trả. Phiên chợ nào Lả cũng ra. Không mong bán được bạc. Chỉ đứng đó, nhìn về phía bờ sông. Nhìn người giặt áo bông chần đỏ. Lả từng mơ, ngày nào cũng nhìn thấy khuôn mặt ấy, má hồng rực lên trong gió lạnh, ngực trẻ phập phồng theo nhịp thở. Anh không gọi tên được. Chỉ thấy nó như một vùng sáng lộng lẫy, như hoa chuối trổ giữa lưng đèo. Nhưng Lả chưa bao giờ lội xuống khúc sông hẹp như thắt eo con gái ấy. Anh chỉ nhìn, rồi để những ngày trẻ dại trôi đi như nước qua đá. Mọi thứ trong bản đều đã ở đó.

***

Gió từ thung lũng thốc ngược lên, mang theo cả phấn hoa lê lấm tấm. Hoa bay đầy mái ngói, rơi cả vào sạp. Một cánh hoa đậu trên tấm bạc đục. Lả đặt kìm xuống, nhìn một lúc, rồi để im. Đến trưa, anh lấy từ khuôn ra một chiếc vòng. Miệng vòng không khép, những hình hoa lê trên thân chạm không đều tay.

Buổi chiều, có người ghé nhờ Lả viết tên cho trẻ con mới sinh. Tờ giấy bản mỏng, màu ngà. Lả viết xong, thổi cho mực khô, rồi dọn sạp sớm. Lả lấy miếng vải đỏ, thứ vải vẫn dùng bọc đồ vía, bọc chiếc vòng méo, mang ra bờ sông. Gốc lê già đứng đó, rễ ngoằn ngoèo, trồi khỏi mặt đất trước khi lặn xuống bùn, như những ngón tay khô bám lấy bờ. Lả cúi xuống, vạch lớp lá mục, đặt chiếc vòng vào hốc rễ. Anh cẩn thận phủ lá lại, nén nhẹ. Rồi cứ đứng đó, tần ngần mãi lâu rồi mới quay về. Khi thấy bóng áo bông chần đỏ xuống bến, Lả không đứng dậy, cũng không quay đi. Người con gái cúi xuống nhặt chiếc vòng. Rửa trong lòng sông. Nước lạnh làm bạc sáng lại, sáng hơn lúc còn nằm trong tay Lả. Khi thấy chiếc vòng được cất vào tay áo, Lả mới thở ra, nhẹ như vừa buông một điều thổn thức quá lâu ngày. Chiếc vòng được mang về nhà, đặt sâu dưới đáy hòm bọc da dê, bên cạnh chiếc khăn thêu cành lê trắng.

***

Mưa xuống từ xế chiều. Mưa trái mùa, người già bảo là mưa ngược vía. Trời rét căm căm, nước lại dày hạt, quất sầm sập xuống mái ngói. Cả bản thu việc sớm, lợn gà được lùa lên sàn, cửa gỗ nghiến khép chặt. Trước khi đóng cửa, có nhà còn rắc nắm tro bếp ra bậc thềm, miệng lẩm nhẩm vài câu quen để giữ vía trong nhà. Khói bếp tắt ngúm khi nước Sầu Vắng đổi màu, ngầu đục như vừa bị bầy ngựa trời lội qua.

Nội đi một lúc thì bắt đầu mưa, tới tiệm bạc thì áo quần đã ướt nhẹp. Chiếc xà tích đứt một sợi, mẹ Nội đã gửi tiệm lâu ngày. Bà muốn diện nó trong đám cưới nhà Hứa Vọng. Nội đứng tần ngần ngoài cửa, giữa cơn mưa, mặc cho cây mận sai hoa đang ném đầy cửa những chùm quả non. Trong nhà, Lả vừa uống rượu vừa đọc sách. Một mình, rượu men lá để trong chiếc bát gỗ, với thịt gà khô. "Lấy xà tích của bà Lan", tiếng Nội vọng từ ngoài hiên. Lả ngẩng lên, nhìn Nội một lúc, rồi đứng dậy lấy dây xà tích đã sửa lại, đánh bóng, xích khớp đều đặn, sáng lấp lánh dưới đèn. "Mưa to thế này. Hay là đợi ngớt, rồi mình đưa về", Lả nói, mà mắt không nhìn Nội. Bên ngoài, mưa quất mạnh hơn, tiếng gió đập cửa như tiếng ai hối thúc tìm gọi. Nội nhìn ra cơn mưa, không còn gì ngoài mịt mù. Nội bước qua bậu cửa, đi vào.

Lả rót thêm rượu: "Uống một ngụm, sẽ ấm người". Men lá hơi nồng, rượu trong như nước mưa. Nội nhấp một ngụm, cổ họng nóng lên. Họ ngồi đối diện, ít nói. Tiếng mưa rơi dày trên mái. Lửa trong lò giữ đều. Mùi bạc nguội, mùi khói bếp, mùi rượu quyện vào nhau, thứ mùi quen của những căn nhà ấm lửa, khiến người ta dễ ngồi lại hơn là đứng dậy. Họ nói những chuyện không đầu không cuối. Chuyện đám cưới. Chuyện bỏ nhau. Rồi quay lại chuyện mưa trái mùa. Nội nói về mưa ngược vía. Lả cười khẽ, không đáp, vào buồng lấy chiếc áo lông, khoác lên vai Nội. Nội kéo áo sát cổ, giống như khi qua sông lúc gió mùa về.

Rượu vơi dần. Mưa vẫn không dứt. Đêm thăm thẳm sâu. Sông ngoài kia dâng, nước đập vào rễ lê oàm oạp. Nội co chân, ngồi sát bếp. Hơi ấm tỏa ra chậm chạp. Lả ngồi gần hơn. Chỉ có tiếng mưa và tiếng lửa thở. Khi Nội nghiêng người, tựa vào vai anh, nhẹ như đặt tay lên một tường thành thân quen. Lả không tránh. Hơi thở hai người chạm nhau, nóng hổi. Nội dịch lại gần. Trán chạm cổ anh. Lả cúi xuống một chút. Áo khoác trượt khỏi vai, rơi xuống. Trong căn nhà nhỏ, thân thể tìm nhau không nóng vội, không đòi hỏi, như hai dòng nước gặp nhau ở khúc sông hẹp. Không có tiếng nói nào thoát ra trong đêm.

Gần sáng, mưa thưa, nhưng sương dày nặng trịch. Trước khi bước ra cửa, Nội đứng lại một lát, buộc lại dây áo, vuốt nhẹ tà, như người ta vẫn làm sau đêm mưa để vía kịp theo người. Cô nhặt áo khoác, giũ nhẹ, gấp lại, đặt lên ghế. Xà tích nằm trên bàn, bạc sáng lên. Lả đứng dậy sau. Không ai nhìn ai. Những việc đã xảy ra, để lại giữa mưa.

Đường đá còn ướt. Nội đội nón, cầm xà tích, đi trước. Lả đi sau, cách vài bước. Đến khúc rẽ, họ dừng. Nội lên bản. Lả men theo sông. Anh chọn lối quen, như vẫn chọn những điều chẳng bao giờ nói ra.

Những ngày sau, cuộc sống của Nội trở lại nếp cũ. Sáng nhóm bếp, chiều xuống bên giặt giũ phơi phóng. Có hôm cô ngồi lâu trên tảng đá, nhìn đám lá trắng trôi mãi theo dòng, rồi mới về. Một sáng chẻ củi, mùi khói bếp khiến cổ họng Nội se lại. Cô ngồi xuống bậc cửa, nôn ra hiên. Chuyện lặp lại vài hôm. Rồi mệt. Việc nặng được đổi cho người khác. Đàn bà trong bản nhìn thấy, không hỏi. Mẹ Nội, người mang lá thuốc đặt ở cửa buồng, dặn con gái nghỉ sớm. Bà không hỏi con gái, cũng không đi tìm Lả. Bà chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy nắng hắt vào trong giường, rồi lụi đi rất nhanh. Bà thở dài, và gọi hỏi thăm xem bà mụ đỡ đẻ năm xưa nay còn sống hay đã mất.

Sau ngày thứ ba thì mẹ Nội sang. Bà không đi một mình. Bà mang theo một người đàn bà lớn tuổi trong họ, đứng ngoài hiên. Không ai bước vào nhà. Mẹ Nội không trách. Bà chỉ nói những câu ngắn, đủ nghe. Rằng Nội còn trẻ. Rằng nhà này không cho phép chuyện ấy xảy ra. Rằng cái thai, nếu có, thì đã được tính rồi. "Để lâu, mang tiếng cả họ", bà nói, giọng đều, như đang dặn trẻ con cách phơi thóc. Lả đứng yên, tay anh còn dính muội bạc. "Mày phải đi. Khỏi bản này. Nếu còn ở lại, sạp bạc này sẽ được san phẳng. Ai còn dan díu tới Ma Văn Lả là chống đối nhà họ Hà". Lả trân trối nhìn bà. "Chữ của mày như ma nhập, nhà tao không dùng. Bạc nhà mày có quỷ khiến, nhà tao cũng tuyệt đối không dùng". Người đàn bà đứng ngoài hiên ho khẽ một tiếng, như đánh dấu câu nói đã xong.

Lả biết bà nói thật. Nhà Nội bờ xôi ruộng mật, lúa tích đầy sàn, bạc hoa xòe vài trăm lượng. Họ Hà to nhất bản, đi đâu cũng là anh em. Ông không dùng chữ của Lả, không đến nhà Lả, ông cần đứa con gái không làm xấu mặt mình.

Lả không sang tìm Nội. Anh biết nếu còn cố ở lại, mọi thứ sẽ vụn nát. Lả dậy sớm, nhóm lửa lần cuối, xếp lại sạp bạc. Những món đã sửa xong anh để nguyên cho người đến lấy. Những món còn dở, anh gói lại. Nhà để đó, không khóa. Lả nhìn xuống bờ sông, nhìn gốc lê già. Nước đục ngầu. Như chưa từng có một đêm mưa đã qua.

Lả đi theo đường men sông xuống dưới chợ huyện. Từ đó, anh theo những phiên chợ xa dần, mang nghề làm bạc đi như mang theo một phần thân thể. Ban ngày anh sửa vòng, đánh xà tích. Ban đêm ngủ nhà người quen. Có lúc xuống tận thị trấn, làm thuê cho lò kim loại, chép sổ công, ghi nợ. Nhưng mỗi khi mài bạc, anh lại nhớ dòng Sầu Vắng, nhớ một căn nhà có lửa nhỏ, và một đêm mưa chẳng nỡ gọi tên.

Nội không hỏi Lả đã đi đâu, cô cũng không ghé chợ nơi có tiệm bạc đứng trong tàng mận đang mùa đậu quả. Một buổi sáng, mẹ bảo lên rừng hái lá. Chiều về, Nội nằm liệt. Vài ngày sau, việc nặng được đổi cho người khác. Chiếc vòng bạc nằm trong hòm, Nội nhìn thấy mỗi lần thay đồ. Miệng vòng không khép. Nội không nhờ ai sửa. Những thứ đã méo, nếu cố nắn sớm, sẽ gãy. Lả đi miết, sợ rằng nếu quay lại, sẽ chỉ thấy một khoảng trống đã bị dọn sạch. Cố hương ở trong lòng, xiết lại như một vết dao. Chỉ khi gió núi thổi xuôi, khi những người quen ở chợ huyện nhắc đến cái tên Sầu Vắng, anh mới dừng tay lâu hơn trên miếng bạc, như chạm vào một vết sẹo cũ chưa liền da.

Cuối đông, sương dày, sông như lùi xa thêm một đoạn. Nội dọn ra căn chái nhỏ rìa bản, chỗ trước kia chỉ dùng để tập hợp củi khô cho mùa đông. Bố không nhìn. Mẹ lén quay đi. Bụng lớn dần, áo rộng hơn, khăn buộc lỏng. Nội sống bằng những chiếc áo bán cho trẻ con. Người trong bản đi qua, nhìn thấy thì tránh ánh mắt. Giữa mùa hè, bão về, nước sông dâng sát thềm. Nội kê lại hòm áo, chèn đá vào chân giường. Đứa trẻ cựa mạnh. Có lúc đau đến mức mồ hôi ướt lưng, Nội vẫn cắn răng chịu. Cha Nội từng sai người mang lá thuốc đến, dặn "uống cho sạch". Nội đổ lá xuống sông. Nước cuốn đi rất nhanh, như chưa từng có gì. Nội lên cơn đau từ nửa đêm. Tự nhóm bếp, đun nước, đặt dao nhỏ và khăn sạch bên cạnh. Khi cơn đau dồn lên, Nội bám vào cột gỗ, trượt xuống nền đất. Nội cắn vào vạt áo, thấy cả mùi vải ẩm và máu. Tới gần trưa, em bé chào đời, nó không gào thét mà chỉ khóc khe khẽ. Nội run rẩy bế con lên, áp vào ngực. Cô ngồi dựa cột rất lâu, đến khi hơi thở đều lại.

***

Chiều đó, mẹ Nội mang sang ít đồ. Đặt xuống rồi về ngay. Không nhìn đứa trẻ. Vài ngày sau, con bé dần khỏe mạnh, cọ cựa trong khăn. Nội chạm nhẹ lên trán con. "Ở lại", cô nói rất khẽ, như nói với chính mình. Rồi đặt con xuống, nhóm bếp. Đứa trẻ được gọi là Mầm. Không giấy tờ. Không bàn thờ. Cái tên đi theo gió sông, đủ để hai mẹ con gọi nhau khi trời tối. Những hôm nắng hiếm, Nội mang hòm áo ra phơi. Chiếc vòng bạc dưới đáy hòm vẫn nằm yên. Đêm xuống, nước sông chảy sát thềm. Nội nghe tiếng nước, nghe hơi thở của con. Nó vẫn lớn lên từng ngày, như một mầm cây mọc lệch hàng.

Mầm ít khóc, hay nhìn. Khi biết ngồi, nó có thể ngồi rất lâu ở bậc cửa, nhìn ra sông. Nước chảy trước mặt, đổi màu theo ngày. Có hôm trong, nhìn rõ cuội trắng. Có hôm đục, cuốn theo lá mục và cành khô. Rồi Nội lên xã làm giấy khai sinh cho con. Mục tên cha để trống. Con bé vào mẫu giáo, chiều về chơi đùa trên bến, nhặt sỏi xếp thành hàng rồi lại phá đi.

Lả trở về vào một buổi cuối năm, dọn dẹp mở lại tiệm bạc. Căn nhà sát sông khói thở vút lên trời. Lả làm chậm, ít nói, sửa đồ bạc xong đẩy sang bên, ít khi nhìn. Rồi có người để ý, cạnh sạp bạc, Lả đặt thêm một tấp giấy bản, viết những câu kiểu thư pháp, nét đậm nhạt không đều, xếp tựa vào vách ngang tầm mắt người nhìn.

Phiên chợ đầu tiên sau ngày Lả về, tấm giấy ấy không còn. Hôm sau, Lả đặt tấm khác. Không ai hỏi mua, cũng chẳng ai trả tiền. Nhưng cứ mỗi phiên chợ, lại có một tờ giấy biến mất. Những câu chữ ngắn, không vần, không ký tên. Có hôm chỉ một dòng: "Im lặng cũng là một cách yêu". Có tờ viết: "Có người chờ nơi không ai ngoái lại". Người đến sửa bạc thường đọc chữ trước rồi mới nhìn vòng. Có người đứng lâu. Có người đọc xong quay đi. Có người gấp tờ giấy, bỏ vào tay áo, mang sang bản khác. Có người đặt chữ dưới bát cơm của người khác rồi lặng lẽ về. Người ta đọc chữ trước rồi mới nói chuyện. Lả không nhìn theo. Anh đặt chữ ra như đặt bạc đã sửa xong, rồi quay lại việc của mình.

Người trong bản bảo nhau, Lả viết chữ mới. Không phải chữ cúng hay để treo, mà để người ta nói chuyện với nhau. Nội đi qua tiệm bạc, nhìn chữ, rồi đi tiếp, chẳng vào. Mầm theo mẹ xuống chợ. Con bé đứng trước sạp bạc, nhìn những tờ giấy. Có lần nó chỉ tay vào chữ, nói khẽ: "Chữ này". Lả ngẩng lên, nhìn con bé một lúc. Anh rút tờ giấy ấy xuống, đặt sang một bên, rồi lấy tờ khác thay vào. Mầm nhìn tờ mới, im lặng. Nội đứng ngoài cửa, kéo nhẹ vạt áo con. Đến tận chiều, Lả vẫn ngồi bên lò. Trên vách còn một tấm giấy chưa ai lấy. "Yêu một người như cả cuộc đời". Đến tối, anh gấp tờ giấy ấy lại, đặt vào ngăn kéo. Hôm sau, không bày ra nữa. Nhưng những ngày sau đó, vẫn có chữ xuất hiện, rồi biến mất.

Những ngày sau, chữ vẫn đặt cạnh sạp bạc, nhưng không đều. Có hôm có, có hôm để trống. Người trong bản quen đứng đọc trước khi nói chuyện. Có con gái gấp chữ rất kỹ, kẹp vào nẹp áo, đi ngang qua không dám nhìn ai. Khi chữ được lấy đi, Lả không đặt ngay tờ khác. Anh để trống một khoảng.

Dần dần, bọn trẻ tìm đến vì chữ nhiều hơn vì bạc. Lả viết những câu ngắn, có khi pha trò: "Thích thì nói sớm, để lâu kẻ khác nhặt". Có hôm lại dịu: "Ngồi cạnh nhau, đừng hỏi nhiều". Bọn trẻ thích, xin tới tấp. Lả cười, bảo: "Coi như mượn vía". Chúng cười, mang chữ đi.

Cuối năm, chợ đông hơn lệ thường. Lả đặt lên bàn một tờ giấy bản: "Giữ lấy điều chưa nói". Đến trưa, tờ giấy vẫn còn. Mầm đứng trước sạp, tay nắm vạt áo mẹ. Con bé nhìn chữ, rồi nhìn Lả. Lả cúi xuống thay kìm, không ngẩng. Nội đứng ngoài cửa, chờ. Mầm kéo nhẹ tay mẹ, nói rất khẽ: "Con lấy". Nội không đáp. Lả ngẩng lên, nhìn hai mẹ con một lúc, rồi gấp tờ giấy lại, đặt vào tay Mầm. Không nhìn Nội. Mầm gấp chữ lại, kẹp vào áo. Nội cúi đầu, kéo con đi.

Rồi lâu sau, Nội quay lại. Lả ngẩng mặt lên, như biết trước. "Trẻ con còn ngây ngốc, đừng viết thêm". Lả gật, không nói thêm. Im lặng một lúc, rồi đưa một cọc tiền vào tay Nội: "Cất, mua sách cho nó học, chắc cũng đủ hết lớp 12". Nội hỏi, rất khẽ: "Định đi đâu?". "Chưa biết", Lả đáp. Rồi thêm, như nói với chính mình: "Ở đây, nói gì cũng khó". Nội đứng yên, một lúc lâu mới nói: "Em không đi đâu cả". Nội đặt tay lên ngực, rồi đặt xuống: "Con ở đây. Em cũng ở đây". Lả cúi xuống, xếp lại mâm bạc. Khi đứng dậy, chỉ nói một lời: "Biết rồi". Sau bữa ấy, Lả vẫn mở tiệm, nhưng có khi quên nhóm lửa. Anh vẫn trêu đám trẻ, rồi đuổi đi. Chỉ để tâm nhìn rất lâu sau lưng Nội.

***

Một sáng, tiệm bạc không mở cửa. Ban đầu không ai để ý. Trong bản vẫn có những ngày người ta nghỉ muộn. Đến trưa, có người mang đồ sang sửa, thấy cửa khép, lò tắt. Chiều xuống, nhà sát bờ sông không lên khói. Đêm đó, đèn không thắp. Sáng hôm sau nữa, cửa vẫn khép. Có người đi ngang, nhìn qua khe ván. Sạp bạc trống. Những món đồ đặt rất ngay ngắn, búa nhỏ, kìm, đá mài xếp thành hàng. Trên mâm gỗ, vài chiếc vòng chưa sửa xong được để riêng. Tấm giấy bản thường tựa vách không còn. Con dao nhỏ Lả luôn mang theo bên mình cũng không còn trong nhà.

Có người nói Lả đi sớm, chưa kịp dặn. Có người nhắc đến khúc ngoặt sông, nơi đá dựng đứng, nước xiết mấy hôm nay dâng cao. Những câu ấy va vào nhau rồi lặng đi. Nội nghe tin khi đang đan áo cho Mầm. Kim dừng giữa chừng, chiếc áo len đỏ gắt lên. Tối, cô đưa con ngủ sớm. Mầm hỏi rất khẽ: "Mai còn chữ không?". Nội đáp: "Không biết".

Những ngày sau, tiệm bạc vẫn khép. Người trong bản mang đồ sang sửa nơi khác. Có người xuống bờ sông, đi dọc theo mép nước. Đến khúc ngoặt, họ dừng lại lâu hơn thường lệ. Dưới gốc lê, lớp lá mục bị vạch ra, lộ một khoảng đất ướt còn mới. Một mảnh vải đỏ, loại vẫn dùng bọc đồ nghề, mắc vào rễ cây, sờ vào còn mùi bạc nguội. Chiều đó, có một bó hương được đặt dưới gốc lê. Tro rơi xuống đất ướt, nước liếm đi rất nhanh. Nội mở hòm lấy tiền đặt mua sách mới cho con. Tờ giấy nằm dưới đáy, nét mực đã nhạt: "Ở lại cho tròn". Nội gấp lại, đặt về chỗ cũ. Không khóc.

Cuối tuần, trong bản có bữa cúng chung cho những người không trở về. Mỗi nhà góp một ít. Ăn xong, ai về nhà nấy. Tiệm bạc vẫn khép. Không còn ai đứng chờ trước cửa. Vài hôm sau, mưa ngớt, Sầu Vắng hiền lành trở lại. Nước trong, nhìn rõ hàm răng trắng như sữa của Mầm. Mầm đứng trước tiệm bạc, nhìn cửa khép, rồi quay ra sông.

***

Tết đến muộn. Nhà nhà vá lại mái, quét sân, mang gạo đi giã bột làm bánh. Nội gói bánh chưng gù từ chiều hôm trước. Gà làm sớm. Rượu đựng trong chai nhỏ, nút lá chuối khô. Sáng hai tám, hai mẹ con đi tảo mộ. Nội men qua mấy thửa nương bỏ không. Mộ nằm gần bờ sông, không văn bia, một ụ đất mới cạnh những mộ cũ. Nội đặt xôi gà, rót rượu, thắp hương. Tàn một tuần nhang, Nội đốt tiền, rồi cắm cờ giấy lên mộ. Hai mẹ con ra về. Nội đặt một nắm xôi ở đầu mả, trong lặng im.

Chiều ba mươi, người khai vài xuân đi qua bản. Áo quần cũ, túi thu sáu đeo hông. Tiếng hát đều, chậm, nói về gạo nước, tiền bạc, về một năm yên ổn. Tiếng hát đi qua cửa nhà Nội rồi xa dần về phía bờ sông. Mầm đứng trong hiên, nghe một lúc, rồi quay vào. Đêm giao thừa, nhà không đốt pháo. Bếp cháy nhỏ. Nội vá lại chiếc áo cũ. Kim đi chậm. Ngoài kia, tiếng người cười nói rải rác, rồi lắng dần.

Sáng mồng một, trời hửng. Bãi đất rộng dưới chân núi mở hội. Người từ các bản quanh kéo về. Có ném còn, đua ngựa. Trẻ con chạy trên đường đá, người già ra sưởi nắng. Mầm theo mẹ ra hội, đứng nép bên hông, nhìn. Khi quả còn bay qua đầu, nó ngẩng lên. Khi ngựa lướt qua, nó lùi lại. Trong áo, tờ giấy gấp nằm yên. Lúc sau, Mầm rời tay mẹ, chạy ra mép bãi, đứng nhìn dòng người. Họ đứng một lúc, rồi đi vòng qua bờ sông. Trên những cành lê già, vài mầm non rất nhỏ nhú ra, phơn phớt. Mầm dừng lại, thả một mảnh giấy xuống nước. Giấy mắc vào rễ lê một lúc, rồi tuột ra. Mầm nhìn theo. Nội không gọi.

Tối, hai mẹ con ăn xôi gấc với thịt lợn xông khói. Trước khi ngủ, con bé lấy tờ giấy dưới gối, mở ra xem. Chữ mờ đi nhiều, nhưng còn nhìn ra nét. Mầm gấp lại, đặt vào áo, kéo chăn lên. Nội thổi đèn. Ngoài kia, tiếng côn trùng bắt đầu. Sông chảy đều. Trong bản, mùa xuân vẫn đang trảy hội.

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.