LTS: Đã chọn đời sống xuất gia, vì sao các vị tu sĩ vẫn dành nhiều năm miệt mài theo đuổi con đường học tập, nghiên cứu đến bậc tiến sĩ? Có người sở hữu 2 bằng tiến sĩ, có người trải qua nhiều năm xa quê học Phật, đối diện không ít khó khăn.
Đằng sau những tấm bằng ấy là những câu chuyện ít người biết về chuyện học, chuyện tu và những ngã rẽ cuộc đời. Báo Thanh Niên mời bạn đọc cùng gặp gỡ 5 vị tu sĩ trong tuyến bài "Tu sĩ học tiến sĩ".
Căn phòng nghiên cứu của hòa thượng Thích Tâm Đức ở thiền viện Vạn Hạnh (phường Đức Nhuận, TP.HCM) có những kệ sách chứa đầy tài liệu Phật học. Vị hòa thượng chậm rãi lần giở những trang ghi chép từ năm 1981, đưa cho PV Thanh Niên xem.

Hòa thượng Thích Tâm Đức xuất gia từ năm 28 tuổi, là đệ tử của trưởng lão hòa thượng Thích Minh Châu
ẢNH: VŨ PHƯỢNG
Những tờ giấy đã úa màu, nhiều nét mực phai theo thời gian. Bên cạnh là các bản sao luận án tiến sĩ tại Ấn Độ và tấm ảnh chụp chung với Ôn Minh Châu (cố trưởng lão hòa thượng Thích Minh Châu, Phó Pháp chủ, người Việt Nam đầu tiên đạt học vị tiến sĩ Phật học tại Ấn Độ, người sáng lập Viện Đại học Vạn Hạnh cùng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam).
Người thầy thay đổi cuộc đời chàng sinh viên kinh tế
Nhìn lại quãng thời gian gắn bó với thiền viện Vạn Hạnh, khi được hỏi Ôn Minh Châu đã ảnh hưởng đến cuộc đời mình thế nào, hòa thượng Thích Tâm Đức nói: "Thầy có thể nói rằng, nếu không có Ôn Minh Châu, cuộc đời thầy bây giờ đã tàn tạ".
Sinh ra trong gia đình có 10 anh em ở Huế, từ nhỏ ông đã tham gia sinh hoạt gia đình phật tử. Một chiều chủ nhật, sau buổi tụng kinh, cậu bé hỏi các anh chị lớn câu "Sắc tức thị không, không tức thị sắc" trong Bát Nhã Tâm Kinh có ý nghĩa gì nhưng không ai trả lời được.
"Tụng kinh mà không hiểu thì tụng làm gì?", hòa thượng nhớ lại suy nghĩ khi ấy.

Tấm ảnh chụp cùng Ôn Minh Châu ở thiền viện Vạn Hạnh của hòa thượng Thích Tâm Đức ngày còn trẻ
ẢNH: VŨ PHƯỢNG
Cậu học trò còn tự hỏi sau này lớn lên, lập gia đình, đi làm kiếm sống, nếu chẳng may thất nghiệp, bệnh tật hay gặp tai nạn thì sao? Rồi khi già đi, chết đi, cuộc đời sẽ như thế nào?.
"Thỉnh thoảng nhìn lên bầu trời, giữa cái bao la của vũ trụ, thầy ước gì mình tìm ra được một cái gì đó như chiếc chìa khóa để hiểu được vũ trụ kia", hòa thượng kể.
Năm 1972, giữa thời chiến, chàng trai quê Huế chọn học kinh tế tại Viện Đại học Vạn Hạnh để tiếp tục việc học và tránh nhập ngũ, dù trước đó từng muốn trở thành bác sĩ.
Một năm sau, trong lớp Con người và xã hội do Ôn Minh Châu giảng dạy, bài học về Ānāpānasati (niệm hơi thở vào, hơi thở ra) khiến chàng sinh viên 20 tuổi có linh cảm đã tìm thấy chiếc chìa khóa mình tìm kiếm bấy lâu.
Khi Ôn Minh Châu mở khóa thiền miễn phí kéo dài 3 tháng, ông đăng ký ngay. Cuối khóa chỉ còn khoảng 12 - 15 người theo học, nhưng chàng sinh viên tiếp tục thêm 2 khóa nữa rồi được Ôn nhờ hỗ trợ lớp thiền.
Sau khoảng 6 tháng thực hành, ông nhận thấy mình bớt hồi hộp, đổ mồ hôi tay và gặp ác mộng. Có lúc ngồi thiền, cơ thể nhẹ bẫng như tan biến vào hư không.

Những trang giấy úa màu ghi các bài kinh của hòa thượng Thích Tâm Đức
ẢNH: VŨ PHƯỢNG
Một lần vào thư viện Phật học tại Đại học Vạn Hạnh, ông đọc được câu "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" (sinh khởi cái tâm không bám víu) trong Kinh Kim Cang.
"Không lẽ kinh điển lại diễn tả trạng thái an lạc của thiền?", hòa thượng nhớ lại sự ngạc nhiên khi liên hệ câu kinh với trải nghiệm của mình. Từ đó, những hoài nghi về kinh điển được giải tỏa, ông bắt đầu tìm đọc kinh sách Phật giáo mỗi khi có thời gian.
Tốt nghiệp đại học, ông làm công việc thống kê nhưng thường dành cả 12 ngày nghỉ phép hằng năm để trở lại Sài Gòn thăm Ôn Minh Châu.
Năm 1981, trong một lần về thăm, hòa thượng Thích Chơn Thiện gợi ý ông xuất gia để phụ giúp Ôn Minh Châu. Là con trai đầu trong gia đình 10 anh em, ông từng nghĩ cha mẹ khó chấp thuận. Không ngờ, cả hai đồng ý ngay vì đã biết và kính trọng Ôn từ trước.

Hòa thượng Tâm Đức (ngoài cùng bên trái) ngày còn đang học tại Viện Đại học Vạn Hạnh
ẢNH: NVCC
Những năm theo Ôn Minh Châu, có lúc chờ Ôn đi họp, người học trò ngồi ngoài xe tranh thủ đọc sách. Khi nghe giảng Trung Bộ Kinh, ông còn mượn bản tiếng Anh để đối chiếu, ghi chép. Hơn 40 năm trôi qua, những trang ghi chép từ thời theo học Ôn Minh Châu vẫn được giữ lại trong căn phòng nghiên cứu.
Hai bằng tiến sĩ và những lần không bỏ cuộc
Theo lời hòa thượng, năm 1991, hòa thượng là 1 trong 2 người đầu tiên nhận học bổng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Ấn Độ.
Sau chương trình thạc sĩ tại Đại học Delhi, trong lúc tìm đề tài tiến sĩ, ông tham dự một hội thảo và nhận thấy vị giáo sư trình bày chưa biết nhiều về Phật giáo Việt Nam. Từ đó, hòa thượng quyết định nghiên cứu luận án: "Thiền Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần".

Hòa thượng Thích Tâm Đức trong lần nhận bằng tiến sĩ đầu tiên năm 1997
ẢNH: VŨ PHƯỢNG
"Điều tôi thấy hay nhất khi nghiên cứu luận án này là thiền Phật giáo Việt Nam không chỉ hướng đến sự an lạc nội tâm mà còn gắn bó với đời sống hằng ngày, với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước", hòa thượng nói. Năm 1997, hòa thượng nhận bằng tiến sĩ đầu tiên.
Cơ duyên đến với bằng tiến sĩ thứ hai bắt đầu từ một lần cùng người bạn đến trường. Nhìn thấy thông báo tuyển nghiên cứu sinh khoa Triết học, Đại học Delhi, ông vào hỏi và được giới thiệu gặp giáo sư trưởng khoa.
Vị giáo sư yêu cầu hòa thượng tìm đọc 3 cuốn sách về tư tưởng của ngài Long Thọ, rồi quay lại sau một tuần. Sau buổi trao đổi kiểm tra kiến thức, giáo sư đồng ý hướng dẫn nghiên cứu triết lý Kinh Pháp Hoa.
Lần này, học bổng đã hết. Hòa thượng phải ra ngoài thuê nhà, cùng bạn đi chợ, nấu ăn để tiết kiệm chi phí.
Trong một lần đến ga tàu hỏa Delhi cùng người bạn, hòa thượng gặp đoàn phật tử Việt kiều từ Đức đang mua vé. Một phụ nữ trong đoàn hỏi thăm, biết vị tu sĩ Việt Nam vừa nhận bằng tiến sĩ Phật học, nay tiếp tục nghiên cứu triết học nhưng không còn học bổng nên đề nghị hỗ trợ 100 USD mỗi tháng. "Khi ấy, tiền ăn ở, thuê nhà khoảng 50 USD. Được hỗ trợ 100 USD mỗi tháng là đủ để thầy tiếp tục học", hòa thượng kể.
Đến nay, hòa thượng vẫn nhớ ân tình ấy, dù sau này hai bên mất liên lạc.

Hòa thượng Thích Tâm Đức tiếp tục đưa Kinh Pháp Hoa vào các buổi thuyết pháp
ẢNH: TUỆ TÂM
"Với luận án tiến sĩ thứ hai, suốt hai năm rưỡi, thầy không biết làm sao đi vào đề tài này. Đọc Kinh Pháp Hoa thấy toàn những câu chuyện mang tính thần thoại, trong khi mình phải tìm ra triết lý", hòa thượng Thích Tâm Đức nhớ lại giai đoạn nghiên cứu luận án tiến sĩ thứ hai tại Ấn Độ với luận án "Triết lý Kinh Pháp Hoa - Phân tích khái niệm và học thuyết".
Khi ấy, ông đã có một bằng tiến sĩ Phật học vẫn loay hoay tìm cách tiếp cận bộ kinh gồm 28 phẩm, thậm chí có lúc thoáng nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Phải đến khi đọc lại tài liệu về tư tưởng của ngài Long Thọ, ông mới tìm thấy hướng tiếp cận luận án qua khái niệm nhị đế.
Theo hòa thượng, đây là cấu trúc phù hợp để lý giải 28 phẩm Kinh Pháp Hoa. Sau một năm rưỡi, ông hoàn thành luận án và nhận bằng tiến sĩ thứ hai vào năm 2003.

Hòa thượng Thích Tâm Đức thường đưa những kết quả nghiên cứu vào các bài giảng
ẢNH: TUỆ TÂM
Hai công trình nghiên cứu sau đó được xuất bản thành sách, gồm "The Way to Trúc Lâm Meditation School in Vietnam" và "Ekayāna Philosophy of the Saddharmapuṇḍarīka Sūtra".
Trong những năm du học, hòa thượng có cách ôn thi khá riêng. Thay vì thức khuya học bài, ông dành thời gian ngồi thiền để nhớ lại kiến thức đã đọc. Chỗ nào quên mới mở tài liệu xem lại.
Trở về Việt Nam, hòa thượng Thích Tâm Đức tiếp tục giảng dạy Phật học, trong đó có Kinh Pháp Hoa, đưa những kết quả nghiên cứu vào bài giảng cho tăng ni sinh và các buổi thuyết pháp.
Nói về việc học của người xuất gia, hòa thượng nhắc đến quan niệm "Tu mà không học là tu mù". Theo hòa thượng, học giúp người tu hiểu kinh điển, phân biệt đâu là phương tiện, đâu là cứu cánh để thực hành, chuyển hóa bản thân.
Hòa thượng Thích Tâm Đức sinh năm 1953, xuất gia năm 1981, tốt nghiệp Trường cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở II năm 1988. Năm 1991, hòa thượng sang Ấn Độ du học theo diện học bổng, nhận bằng tiến sĩ đầu tiên năm 1997, bằng tiến sĩ thứ hai năm 2003 và bằng tiến sĩ danh dự của International University of Morality (Hoa Kỳ) năm 2018.
Hai hướng nghiên cứu chính của hòa thượng là thiền Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần và triết lý Kinh Pháp Hoa. Hiện hòa thượng tham gia giảng dạy, nghiên cứu Phật học Nguyên thủy và Đại thừa, hướng dẫn thực hành thiền và hoằng pháp trong, ngoài nước.










Bình luận (0)