Bên lề sự kiện Fitch On Vietnam 2026 do Fitch Ratings - một trong 3 hãng xếp hạng tín nhiệm tín dụng dẫn đầu thế giới - tổ chức tại TP.HCM vào ngày 6.8, các chuyên gia của Fitch Ratings đã đưa ra một số nhận định về tình hình kinh tế Việt Nam khi trả lời phỏng vấn Thanh Niên.

Việt Nam đang có nhiều thuận lợi thu hút FDI (trong ảnh: Nhà máy của Công ty Intel Products Việt Nam (IPV) tại TP.HCM)
ẢNH: IPV
Tham gia trả lời phỏng vấn có ông George Xu (Giám đốc nhóm xếp hạng tín nhiệm quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Fitch Ratings) và ông Willie Tanoto (Giám đốc cấp cao mảng định chế tài chính khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Fitch Ratings).
Đà tăng trưởng mạnh mẽ từ cải cách và tinh gọn
Giữa bối cảnh căng thẳng thương mại toàn cầu, ông đánh giá thế nào về mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10% mà Việt Nam đặt ra?

ẢNH: NMT
Ông George Xu: Tôi cho rằng ngay trong nửa đầu năm, chúng ta đã thấy nền kinh tế thể hiện khả năng chống chịu rất đáng kể trước những "cơn gió ngược" từ bên ngoài, chẳng hạn cuộc chiến Iran và giá năng lượng cao. Điều này có được là nhờ những nỗ lực đa dạng hóa rất hiệu quả của Chính phủ nhằm duy trì sự ổn định chung của giá cả tiêu dùng cũng như tăng trưởng kinh tế. Chúng tôi cũng tiếp tục nhận thấy đà tăng trưởng rất mạnh mẽ trong các lĩnh vực sản xuất được dẫn dắt bởi dòng vốn trực tiếp đầu tư nước ngoài (FDI), cũng như ở các ngành xây dựng, dịch vụ và du lịch. Đây đều là những động lực then chốt mà chúng tôi tin rằng sẽ tiếp tục củng cố đà tăng trưởng của Việt Nam trong nửa cuối năm nay.
Hiện tại, chúng tôi dự báo mức tăng trưởng cả năm 2026 sẽ cao hơn năm ngoái. Để đạt mức tăng trưởng 10% cả năm, thì nửa cuối năm có thể cần đạt tới 11,7%. Điều này tuy không phải là bất khả thi, nhưng cần lưu ý rằng chúng ta vẫn đang dần chứng kiến tác động kinh tế từ các sáng kiến cải cách khác nhau. Do đó, việc đạt mức tăng trưởng đó đòi hỏi nỗ lực lớn hơn nhiều, chẳng hạn như chấp nhận thâm hụt ngân sách cao hơn hoặc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng tín dụng - những điều chưa chắc đã tốt cho sự ổn định kinh tế.
Đó là một phần lý do khiến chúng tôi tin rằng tăng trưởng vẫn sẽ rất mạnh mẽ - và mạnh hơn nhiều của Việt Nam so với các quốc gia cùng nhóm xếp hạng tín nhiệm BB. Ngoài ra, một lý do khác là những bất định trong thương mại với Mỹ có thể tạo ra trở ngại cho triển vọng tăng trưởng của Việt Nam. Hiện vẫn còn các cuộc điều tra của Mỹ theo điều khoản 301 đang diễn ra, bao gồm các vấn đề về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như dư thừa công suất. Những vấn đề này có thể dẫn đến việc Mỹ áp thêm thuế quan, bên cạnh mức thuế 12,5% đã áp dụng từ cuộc điều tra điều khoản 301 trước đó. Nếu Mỹ áp thêm thuế, năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam có thể bị suy giảm.
Thêm vào đó là quá trình tinh gọn bộ máy quản lý đang dần diễn ra. Tất cả các cải cách thể chế này đều có tiềm năng thúc đẩy đà tăng trưởng để đạt được mục tiêu đề ra, tuy nhiên kết quả sẽ cần thời gian để thể hiện rõ chứ không phải trong ngắn hạn.
Lợi thế và bất lợi
Vậy trong đó, Việt Nam đang có lợi thế nào và bất lợi nào?
Vâng, lợi thế rõ ràng nằm ở mô hình tăng trưởng dựa vào FDI đang tiếp diễn. Việt Nam là một trong những quốc gia hưởng lợi từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, cụ thể là xu hướng dịch chuyển "Trung Quốc + 1" của các tập đoàn đa quốc gia. Chúng tôi kỳ vọng đà tăng trưởng FDI sẽ được duy trì, qua đó hỗ trợ triển vọng tăng trưởng không chỉ trong ngắn hạn mà cả trung hạn.
Ngoài ra, việc Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công trong 5 năm tới cũng sẽ là động lực then chốt cho triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ, vượt trội so với nhiều quốc gia cùng nhóm xếp hạng tín nhiệm "BB". Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là sự mở rộng dần dần và liên tục của các ngành dịch vụ - bao gồm cả du lịch - đang cho thấy đà phát triển rất mạnh mẽ và xu hướng này nhiều khả năng sẽ tiếp diễn. Điều này sẽ góp phần hỗ trợ các chỉ số tăng trưởng chung trong thời gian tới.
Về mặt bất lợi, tôi cho rằng vấn đề có thể nằm ở sự mở rộng tín dụng quá mức; hiện tại, tốc độ tăng trưởng tín dụng so với cùng kỳ trong nửa đầu năm đã vượt mức mục tiêu 15% do Ngân hàng Nhà nước đặt ra. Nếu Chính phủ thực sự muốn đạt mục tiêu tăng trưởng 10% cho cả năm, thì có thể cân nhắc nới lỏng hơn nữa các chỉ tiêu về đòn bẩy tài chính và tăng trưởng tín dụng. Điều này có thể dẫn đến những bất cập trong phân bổ nguồn vốn tín dụng, cũng như thúc đẩy lạm phát giá tài sản (đặc biệt là bất động sản) hoặc tạo ra bong bóng tài sản và kích thích các hoạt động đầu cơ.
Chuyển dịch của FDI
Còn với quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra, Việt Nam có thể tận dụng điều gì?
Việt Nam đã và đang hưởng lợi từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Nếu nhìn vào tỷ lệ FDI so với GDP, ta thấy con số này đang ở mức cao kỷ lục; điều này chứng tỏ Việt Nam đang làm rất tốt việc thu hút các nhà đầu tư và dòng vốn FDI vào đất nước. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có vị thế thuận lợi để hưởng lợi từ nhu cầu toàn cầu đối với trí tuệ nhân tạo (AI). Chúng ta đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu các sản phẩm điện tử liên quan AI trong nửa đầu năm nay; kết quả này có được là nhờ Việt Nam đã xây dựng được nhiều cơ sở sản xuất hợp tác với các nhà sản xuất toàn cầu trong lĩnh vực điện tử và bán dẫn. Các khâu như kiểm thử, đóng gói, cũng như mạng lưới cung ứng và bí quyết sản xuất đều đã hiện diện và được thiết lập vững chắc.
Chính vì vậy, Việt Nam đang ở vị thế rất mạnh so với nhiều đối thủ cạnh tranh khác trong khu vực để thực sự hưởng lợi hoặc nắm bắt nhu cầu liên quan AI, đồng thời duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ. Tất nhiên, thời gian tới, Chính phủ Việt Nam mong muốn thu hút dòng vốn FDI vào các lĩnh vực sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn; điều này sẽ hỗ trợ các kế hoạch trung hạn của Chính phủ nhằm tiếp tục nâng cao năng suất và đạt được mục tiêu tăng trưởng cao.
Tất cả những yếu tố này đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tôi cho rằng Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều sáng kiến quan trọng. Chính phủ Việt Nam cũng đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do với nhiều thị trường xuất khẩu; điều này cho phép các nhà xuất khẩu và nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận các thị trường đó với mức thuế suất ưu đãi hơn. Đây là một trong những thế mạnh cốt lõi giúp Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn FDI.
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là chi phí nhân công hiện vẫn ở mức cạnh tranh. Chúng tôi cũng hiểu rằng Việt Nam đang muốn chuyển dịch sang các mô hình sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn thay vì chỉ dựa vào mô hình sản xuất thâm dụng lao động giá trị thấp. Sự chuyển dịch này có thể hỗ trợ quá trình từng bước vươn lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị trong trung hạn.
Chúng ta vẫn cần theo dõi sát sao diễn biến này, bởi chi phí nhân công cạnh tranh lâu nay là một trong những yếu tố then chốt thúc đẩy FDI liên tục đổ vào Việt Nam.
Cần tăng cường hiệu quả tín dụng
Theo cập nhật từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổng dư nợ tín dụng từ đầu năm đến cuối tháng 7 vừa qua khoảng 20,15 triệu tỉ đồng (khoảng 730 tỉ USD), tăng 8,38% so với cuối năm 2025. Ông đánh giá thế nào về con số này?

ẢNH: NMT
Ông Willie Tanoto: Các số liệu về tín dụng tại Việt Nam mang tính chất mùa vụ khá rõ rệt. Do đó, chúng tôi thường xem xét dữ liệu theo cơ sở so sánh cùng kỳ năm trước. Tính đến tháng 5 hoặc tháng 6 vừa qua, mức tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 18-19%, đúng như dự báo của chúng tôi hồi đầu năm.
Ngay từ cuối năm ngoái, chúng tôi đã không nghĩ con số này sẽ dừng ở mức 15% mà dự đoán là 18%, và đến nay chúng tôi vẫn giữ nguyên quan điểm đó. Hiện tại, do một số dự án được loại trừ khỏi hạn mức tín dụng (room tín dụng), con số thực tế thậm chí có thể vượt mức 18%.
Điều này đồng nghĩa với việc đòn bẩy tài chính sẽ tiếp tục gia tăng, trong khi mức đòn bẩy hiện tại của Việt Nam vốn đã thuộc hàng cao nhất thế giới so với các thị trường mới nổi tương đồng. Đây không phải là tín hiệu tích cực. Việt Nam đang gia tăng tín dụng thêm khoảng 100 tỉ USD mỗi năm, trong khi mức tăng trưởng GDP lại thấp hơn nhiều so với con số đó. Như thế, hiệu quả gia tăng của mỗi đồng tín dụng đang có xu hướng giảm dần, đồng thời làm gia tăng khả năng bị tổn thương của nền kinh tế. Hiện nay, các hoạt động đầu tư, lập kế hoạch và cấp tín dụng đều dựa trên kỳ vọng tăng trưởng GDP sẽ đạt gần 10%. Nếu xảy ra cú sốc khiến tăng trưởng thực tế thấp hơn mức kỳ vọng, hoặc nếu lạm phát, hoạt động sản xuất hay dòng vốn FDI diễn biến kém khả quan hơn dự báo, thì sẽ xuất hiện khoảng cách lớn giữa thực tế và kỳ vọng.
Qua đó, ông đánh giá thế nào về hệ thống ngân hàng Việt Nam?
Điểm mạnh của các ngân hàng Việt Nam là khả năng sinh lời tốt và còn nhiều dư địa để tăng trưởng. Biên lãi ròng (NIM), dù đang có xu hướng thu hẹp, vẫn duy trì ở mức khả quan, cho phép các ngân hàng đạt được lợi nhuận đáng kể.
Cũng tồn tại vấn đề ở đây. Thứ nhất, chi phí tín dụng và tốc độ phát sinh nợ xấu tại Việt Nam vẫn ở mức cao. Dù phần lớn các khoản vay tại Việt Nam đều có tài sản bảo đảm, nhưng chi phí tín dụng vẫn duy trì ở mức cao. Và do tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, các bộ đệm vốn trở nên cực kỳ mỏng. Dù đã có sự cải thiện trong khoảng thời gian từ 5 - 10 năm qua, nhưng quy mô bộ đệm vốn so với mức độ rủi ro vẫn quá mỏng. Chúng ta đang thấp hơn ít nhất 5 điểm phần trăm so với các hệ thống ngân hàng khác tại Đông Nam Á. Các thị trường khác thường đạt mức ít nhất 15%, trong khi chúng ta chỉ chật vật ở mức khoảng 10%. Sự chênh lệch này là rất lớn. Mọi chuyện vẫn ổn nếu nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng tốt, nhưng nếu xảy ra cú sốc hoặc biến cố bất ngờ, chúng ta sẽ không còn nhiều dư địa hay bộ đệm để chống đỡ các khoản lỗ đó.
Tập đoàn MISUMI (Nhật Bản) mở rộng đầu tư ở Việt Nam
Tập đoàn MISUMI vừa công bố khoản đầu tư khoảng 4,6 tỉ yên nhằm mở rộng năng lực sản xuất tại Việt Nam và các quốc gia khác. Khoản đầu tư hướng tới việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với bàn trượt tự động (Automated Positioning Stages) - linh kiện quan trọng được sử dụng trong thiết bị sản xuất module thu phát quang cho trung tâm dữ liệu trong bối cảnh AI tạo sinh đang được ứng dụng rộng rãi trên toàn cầu, đồng thời mở rộng năng lực sản xuất các linh kiện phục vụ những ngành công nghiệp tăng trưởng như robot hình người.
Theo MISUMI, Việt Nam là một trong những địa điểm được lựa chọn để triển khai khoản đầu tư này. Việc mở rộng sản xuất không chỉ nâng cao năng lực cung ứng toàn cầu của MISUMI mà còn cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng công nghiệp công nghệ cao.
Bình luận (0)