Đó là khoảnh khắc của bình đẳng, tự do, thay cho phận cu li và số báo danh đã theo họ nhiều năm lưu đày.

Chân dung thế hệ Chân Đăng ở Nam Thái Bình Dương trước bàn thờ Tổ quốc
ảnh T.L
Phận người không tên
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, những chuyến tàu rời Hải Phòng liên tục đưa người Việt sang Tân Đảo và Tân Thế Giới (New Caledonia - lãnh thổ hải ngoại của Pháp). Trong số ấy có 800 tù khổ sai từ Côn Đảo bị đưa sang Tân Thế Giới năm 1891, nhưng đông hơn cả là người Chân Đăng, lao động hợp đồng tuyển mộ từ Bắc Kỳ làm việc trong đồn điền dừa, cà phê, cacao hay các khu khai thác mỏ.
Thống kê giai đoạn 1921 - 1939 đã có 35.379 người Việt đi phu theo hợp đồng 5 năm, làm việc 10 giờ mỗi ngày, mùa cao điểm có thể kéo dài tới 15 giờ. Trên giấy tờ, họ được nghỉ chủ nhật, nghỉ lễ, được trả lương, được hồi hương khi hết hạn hợp đồng. Nhưng thực tế khắc nghiệt, không ít người bỏ mạng nơi xứ đảo, nhiều người hết hạn hợp đồng vẫn không có tàu hồi hương.

Người Chân Đăng tổ chức ngày Tết Độc lập 2.9.1958 ở Hội trường Liên Việt, Tân Đảo
Ảnh: T.L
Trong kho lưu trữ ở Nouméa còn ghi rõ những chuyến tàu chở lao động Bắc Kỳ sang thuộc địa. Điều ám ảnh là phần lớn họ không được gọi bằng tên mà bằng số. Tàu Roberto Figueros chuyển 800 lao động Tonkin (Bắc Kỳ) đến Tân Thế Giới ngày 10.8.1920 có ghi những người mang số từ 2103 - 2231 và 2233 - 2250 được chuyển sang Tân Đảo. Con số trở thành danh tính khiến những người rời quê hương trong thân phận không khác gì nô lệ.
Ở Tân Đảo, họ hái dừa, bổ dừa, phơi cùi, khai hoang, trồng cà phê, cacao, bông sợi. Ngoài giờ làm, họ tận dụng từng khoảnh đất quanh lán để trồng rau, thử trồng lúa nước vì không quen ăn bánh mì như người bản địa. Chính hạt gạo, bát cơm và tiếng Việt đã trở thành những sợi dây níu họ với quê hương.
Nhà nghiên cứu Frederique Tailhade trong luận án La Colonisation des Nouvelles Hébrides et les Indochinois (Cuộc xâm chiếm Tân Đảo làm thuộc địa và những người dân đến từ xứ Đông Dương) ghi nhận người Chân Đăng được đánh giá chăm chỉ, biết tổ chức lao động. Có đồn điền rộng 5 ha sử dụng 43 lao động bản địa và 51 mộ phu, nhưng năng suất nhóm người Việt cao gấp bốn lần.

Cổng tam quan được người Chân Đăng dựng lên, gợi nhớ về quê nhà nước Việt
Ảnh: T.L
Sự cần cù lại trở thành bất lợi. Khi làm nhanh hơn, định mức khoán việc bị nâng từ 250 kg dừa lên 400 kg mỗi ngày. Để có một tấn cơm dừa khô, người phu phải bổ khoảng 3.500 quả dừa. Từ nhọc nhằn ấy, một cộng đồng người Việt khi hết hạn hợp đồng, trở thành tự do, họ mở quán ăn, tiệm may, tiệm chụp ảnh, lập hội ái hữu, gìn giữ tiếng Việt, dựng sân khấu chèo và truyền cho con cháu ký ức về quê hương mà chúng chưa từng đặt chân tới.
Tết Độc lập đầu tiên và những bài quốc ca tự chế
Ngày 2.9.1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập. Nhưng đến ngày 30.6.1946 cộng đồng Chân Đăng mới biết tin và tổ chức kéo cờ. Ông Nguyễn Văn Đại, kiều bào ở Port Vila, lúc sinh thời kể: "Ngày tổ chức kéo cờ, bố tôi đưa tôi lên Port Vila, hồi ấy tôi 9 tuổi. Không khí cả thành phố náo nhiệt lắm, người chen kín đường. Cột cờ đặt trước tiệm người Hoa Shu Hing. Lễ kéo cờ do Hội Liên đoàn Ái hữu Việt Nam tổ chức, người kéo cờ là ông Đồng Sỹ Hứa".

Ông Đồng Sĩ Hứa (bên trái người cầm cặp) cùng người Việt ở Port Vila, Tân Đảo làm lễ kéo cờ 30.6.1946
Ảnh: T.L
Điều đặc biệt là khi ấy cộng đồng chưa nhận được Quốc ca từ trong nước. Các bậc cao niên tự sáng tác lời Việt trên nền giai điệu Quốc ca Pháp. Ông Đại thuật lại những câu hát: "Bóng cờ Việt Minh bay cao phấp phới sơn hà. Giữ non nước nhà, há thua năm châu...". Ông cười khi nhắc lại: "Người Tây nghe giai điệu tưởng quốc ca của họ nên cũng đứng nghiêm, ngả mũ, có người còn hát theo bằng tiếng Tây".
Cờ Việt Nam lần đầu tiên tung bay giữa thuộc địa Anh - Pháp (Tân Đảo), còn Quốc ca Việt Nam được cất lên bằng sự sáng tạo, ứng biến kịp thời của những người xa xứ. Ông Nguyễn Văn Minh, Việt kiều ở Tuyên Quang, khi ấy mới 6 tuổi, ký ức không còn trọn vẹn, nhưng cảm xúc chưa bao giờ phai nhạt, nhớ lại: "Tôi chỉ nhớ mọi người vui mừng lắm. Đến năm 1947, đúng Quốc khánh, bố mẹ cho tôi mặc bộ đồ thiếu sinh quân lên phố chụp ảnh. Vui và tự hào lắm, chúng tôi gọi đó là ngày Tết Độc lập".

Đội múa lân ở Tân Đảo
Ảnh: T.L
Ở Tân Thế Giới, bài Quốc ca cũng được sáng tác cấp thời mừng Quốc khánh, lời bài hát được ông Nguyễn Trọng Yên, Việt kiều ở Tuyên Quang, ghi lại: "Cờ quốc túy nước Việt Nam trông xem hùng vỹ, ngọn cờ đào năm cánh hoàng tinh, Đông dương gặp hội thanh bình, tôn thờ chủ nghĩa Việt minh Cộng hòa, chào cờ dân chủ của ta. Theo gương văn hóa nước nhà cho quen, mau mau tỉnh dậy - tính đừng mê man trong đám đỏ đen, nhãng quên hai chữ lợi quyền, Tân Thế Giới dân ngu xi xuẩn, đại Việt Nam đắc thế Cộng hòa. Chào cờ dân chủ của ta".
Ở đảo Santo, Tân Đảo, nhà hội quán trại Chapuis là nơi diễn ra những hoạt động mừng Tết Độc lập. Ông Phạm Bình Tuấn, sinh ra ở Santo, vẫn nhớ rõ buổi chào cờ đầu tiên: "Khi ấy chưa có Quốc ca nên các cụ sáng tác thơ, đọc theo nhịp hùng tráng. Mọi người ăn mặc thật đẹp, nắm tay giơ cao, rồi đồng thanh: "Cờ đỏ ngôi sao vàng, lừng lẫy đất Việt Nam, Tổ quốc bốn nghìn năm, lịch sử từng vẻ vang...". Đọc xong thì ăn uống, vui chơi cả ngày, tối đến diễn chèo Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, Tam Quốc Diễn Nghĩa... Sau này trong nước gửi sang thêm nhiều vở chèo mới, chúng tôi cũng tập diễn".

Làng người Việt ở khu hầm mỏ Tiebaghi, Tân Thế Giới
Ảnh: T.L
Ông cười khi nhắc lại vai diễn đầu đời của mình trong vở chèo nói về cải cách ruộng đất: "Tôi vào vai anh Đôi, trong lúc diễn phải hát đoạn: Không thờ nhà, tấm thân em không cửa không nhà, vợ con là con chả có, biết nhờ cậy ai, tòng quân đã mấy năm rồi…".
Nước Việt trong tim
Kể từ đó, mỗi dịp Quốc khánh, hội quán người Việt lại rực rỡ cờ đỏ sao vàng. Ban ngày mít tinh, chào cờ, thi đấu thể thao, múa lân - rồng, đêm xuống là sân khấu chèo, hát văn nghệ. Nay ở tuổi 87, ông Nguyễn Văn Minh vẫn nhớ như in không khí những ngày Tết Độc lập ở Tân Đảo: "Tết Độc lập tổ chức tại hội quán, gia đình Việt kéo đến đông lắm. Ai ăn uống đều trả tiền, tiền lãi đưa vào quỹ ủng hộ kháng chiến, xây dựng đất nước. Thu được nhiều nhất là đấu giá ảnh cụ Hồ, ảnh quê hương". Giữa Nam Thái Bình Dương xa xôi, một Việt Nam thu nhỏ được gìn giữ bằng ký ức, bằng tiếng hát và bằng lá cờ đỏ sao vàng.

Tiệc mừng Tết Độc lập của thanh niên Tân Đảo
Ảnh: T.L
Sau lễ kéo cờ đầu tiên ở Port Vila năm 1946, ngày 2.9 trở thành ngày lễ lớn chỉ sau Tết Nguyên đán. Với những người rời quê từ thuở thanh niên, đó là ngày được sống trọn vẹn ký ức về đất mẹ. Còn với lớp con cháu sinh ra giữa Nam Thái Bình Dương, chưa một lần đặt chân lên dải đất hình chữ S, Tết Độc lập là dịp gợi nhớ mình thuộc về dân tộc mang tên Việt Nam.
Ở cách quê hương gần 8.000 cây số, những bức ảnh từ Việt Nam gửi sang không chỉ là vật lưu niệm, mà là sợi dây nối cộng đồng Chân Đăng với Tổ quốc, là hình ảnh để những người chưa từng biết Việt Nam hình dung nơi cha mẹ mình đã rời đi.
Ông Nguyễn Văn Minh kể tiếp: "Năm nào Tết Độc lập cũng hoành tráng. Hồi nhỏ các cụ lo hết, lớn lên khoảng 17, 18 tuổi thanh niên chúng tôi làm theo sự chỉ đạo của các cụ, ai cũng góp sức, làm đến toát mồ hôi mà vui". Giữa một quần đảo xa xôi, tiếng chày giã giò, mùi nước phở hay làn điệu chèo lại là cách người Việt giữ lấy bản sắc. Cứ như cả cộng đồng đang sống trong không khí thuần khiết nơi làng quê Bắc bộ.
Mỗi dịp Quốc khánh cũng tuôn trào giọt nước mắt nhớ quê xa. Ông Phạm Văn Thể, Việt kiều Tân Đảo, kể rằng điều ông nhớ nhất là những đêm văn nghệ: "Mỗi lần hát bài Nhớ về quê em của nhạc sĩ Tân Huyền, đến câu Quê em mời nhau bát nước chè, thương nhau từ đầu xóm cuối thôn... là các bà lại thút thít khóc".

Ảnh kỷ niệm gia đình người Chân Đăng (Yến - Ngọc) và 11 người con ở Nouméa, 6.5.1958
Ảnh: T.L
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều người Chân Đăng gây dựng được cuộc sống khá giả nơi xứ đảo, mở cửa hàng, làm chủ tiệm, nhưng vẫn đau đáu ước nguyện trở về. Khác với nhiều cộng đồng lao động nhập cư khác, người Việt ở Tân Đảo và Tân Thế Giới không coi nơi mình đang sống là quê hương cuối cùng, bởi quê hương của họ là Việt Nam.
Gây quỹ kháng chiến
Năm 1945, khi trong nước phát động "Tuần lễ vàng" (17 - 24.9) gây quỹ kháng chiến, kiều bào ở Tân Thế Giới lập tức hưởng ứng. Ông Nguyễn Văn Ngân, Việt kiều Tân Thế Giới, hiện sống tại Hà Nội, cho biết: "Kiều bào Tân Thế Giới quyên góp được 1.672.165 quan gửi về cho Bác Hồ. Người đứng tên gửi là ông Nguyễn Đức Thận, còn việc chuyển tiền do cụ Lê Hữu Chí ở tiệm chụp hình Cả Lê thực hiện. Biên lai hiện vẫn còn lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh".
Cũng trong đợt quyên góp ấy, cụ Lê Hữu Chí kể lại chi tiết người thợ may Trần Văn Doanh ở Tân Thế Giới may riêng chiếc áo lụa gửi tặng cụ Hồ nhưng không thể chuyển về nước vì đường biển bị gián đoạn, ông đem chiếc áo bán đấu giá, thu được 8.000 đồng - một số tiền khổng lồ so với thu nhập trung bình 10 đồng/tháng của người lao động khi ấy - rồi gửi tiền về quê hương.

Các cụ bà Chân Đăng mặc trang phục truyền thống mừng ngày Tết Độc lập
Ảnh: T.L
Cộng đồng Chân Đăng, ra đi trong thân phận người làm thuê, từng bị gọi bằng số báo danh thay tên tuổi, nhưng xa nơi đất mẹ, họ vẫn giữ căn tính Việt Nam bền bỉ đến lạ. Từ tiếng Việt, bát phở, làn điệu chèo, lễ chào cờ, múa lân… tất cả bắt nguồn từ một niềm tin, dù lưu lạc nơi đâu, họ vẫn là người Việt.
80 năm trôi qua kể từ ngày lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên tung bay giữa Port Vila. Những nhân chứng buổi lễ năm ấy giờ đã gần 90, nhiều người khuất bóng. Nhưng trong ký ức hậu duệ Chân Đăng, ngày 30.6.1946 vẫn được nhắc đến như ngày bước ra khỏi thân phận lao động thuộc địa, ngẩng cao đầu dưới lá cờ một đất nước độc lập.
Đó còn là trang sử ít người biết trong lịch sử kiều bào Việt Nam, nơi tình yêu Tổ quốc được gìn giữ bằng nhiều thập niên chờ ngày trở về, bằng những đồng tiền ủng hộ kháng chiến, bằng Tết Độc lập chưa bao giờ phai trong ký ức người Việt giữa biển trời Nam Thái Bình Dương.
Bình luận (0)