Mở rộng đất phương Nam
Đại Nam liệt truyện chép, Nguyễn Cư Trinh tự là Nghi, hiệu là Đạm Am, là con út của Nguyễn Đăng Đệ. Thông minh hơn người, năm 11 tuổi ông đã hay văn, giỏi thơ. Khoa Canh Thân (1740) ông thi đỗ Hương cống, làm Tri phủ Triệu Phong, rồi thăng Văn chức, gặp việc dám nói, có phong cách của bậc gián quan đời xưa.

Di tích cửa hữu thành Long Hồ
Ảnh: Hoàng Phương
Năm Canh Ngọ (1750), Nguyễn Cư Trinh được thăng làm Tuần phủ Quảng Ngãi, bấy giờ ở khu vực Đá Vách thường xảy ra tình trạng cướp phá, quan quân đánh mãi không xong. Ông viết thư phủ dụ họ cũng không chịu ra hàng, bèn bàn việc tiến đánh. Nhiều người lấy việc đường núi hiểm trở, lam chướng xa xôi bàn lùi. Ông bèn viết truyện Sãi Vãi, đặt lời đối đáp để khuyên răn; sau đó tiến đánh, lực lượng này tan vỡ chạy trốn. Ông nghĩ nếu rút quân về, họ lại tụ họp, bèn chiếm sào huyệt dựng trại lũy, lập đồn điền, đặt điếm canh, làm ra vẻ ở lại lâu dài. Những người này sợ bèn đến quân dinh đầu hàng. Ông vỗ về khuyến dụ, tha cho rồi rút quân.
Cuối năm Quý Dậu (1753), sau khi Nặc Nguyên (quốc vương Chân Lạp) gây sức ép lên cộng đồng người Côn Man, chúa Nguyễn quyết định cử Cai đội Thiện Chính làm Thống suất, Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu, chỉ huy tướng sĩ Ngũ dinh tiến đánh Chân Lạp. Mùa hạ năm Giáp Tuất (1754), ông cùng Thiện Chính chia đường tiến quân. Nguyễn Cư Trinh đi tới đâu, giặc tan chạy tới đó, bèn tới Tần Lê Bắc cùng Thiện Chính hội quân ở đồn Lô Yêm. Bấy giờ bốn phủ Lôi Lạp, Tầm Bôn, Cầu Nam và Nam Vang đều hàng.
Mùa xuân năm Ất Hợi (1755), Thống suất Thiện Chính rút quân về đồn Mỹ Tho. Dân Côn Man đi theo, tới đất Vô Tà Ân bị quân Chân Lạp tập kích. Thiện Chính vì rừng tràm ngăn trở không đi cứu được. Nguyễn Cư Trinh đem quân tới cứu được hơn 5.000 dân đưa về chân núi Bà Đen rồi làm tờ tâu hặc tội Thiện Chính, bỏ rơi dân mới quy phục. Chúa bèn giáng Thiện Chính làm Cai đội, lấy Trương Phúc Du giữ chức Thống suất.
Sau đó Nguyễn Cư Trinh cùng Trương Phước Du tiến đánh Cầu Nam, Nam Vang. Quốc vương Chân Lạp chạy sang Hà Tiên, xin hiến đất 2 phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp để chuộc lỗi, nhưng chúa Nguyễn chưa ưng thuận. Thấy người Côn Man giỏi bộ chiến, ông tâu với chúa Nguyễn cho họ định cư ở đất ấy để chế ngự quân Chân Lạp, đồng thời đặt lũy đóng quân, chia cấp ruộng đất cho quân dân, chia vạch địa giới thuộc vào châu Định Viễn.

Tác phẩm Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh
Ảnh: Hoàng Phương
Năm Đinh Sửu (1757), sau khi Nặc Nguyên chết, Nặc Nhuận tạm coi việc nước, bị con rể là Nặc Hinh cướp ngôi. Con Nặc Nhuận là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên cầu cứu, được Mạc Thiên Tích cấp báo. Chúa Nguyễn sai Trương Phước Du tiến đánh. Nặc Hinh bị giết, chúa phong con Nặc Tôn làm quốc vương Chân Lạp. Nặc Tôn lại hiến đất Tầm Phong Long.
Bấy giờ Nguyễn Cư Trinh xin dời lỵ sở dinh Long Hồ từ xứ Cái Bè tới xứ Tầm Bào (thôn Long Hồ, Vĩnh Long). Lại đặt đạo Đông Khẩu ở Sa Đéc, đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đạo Châu Đốc ở Hậu Giang, đều do quân của dinh Long Hồ trấn giữ. Đất phương Nam bấy giờ được mở rộng, đều là công lao của Nguyễn Cư Trinh.
Dân là gốc của nước
Đại Nam thực lục chép, mùa đông năm Tân Mùi (1751), Nguyễn Cư Trinh dâng thư nói về tình trạng cực khổ của dân gian: "Dân là gốc của nước, gốc không vững thì nước chẳng yên. Lúc bình thời không lấy ơn mà kết dân tâm, đến khi có việc làm sao nhờ cậy? Trộm nghĩ thói tệ chất chứa trong dân gian đã lâu, nếu cứ theo lối thường giữ phép cũ không chịu tùy nghi đổi mới, lập phép tắc đặt kỷ cương thì một đạo cũng không trị được, huống chi là một nước. Nay những tệ đoan làm khổ dân có 3 việc là nuôi lính, chăn voi và nộp tiền án phí, ngoài ra những chuyện nhũng nhiễu tệ hại khác thì không thể kể xiết".

Chợ Long Hồ
Ảnh: Hoàng Phương
Nhân đó, ông điều trần 4 thói tệ: "Phủ huyện là chức trị dân, nhưng lâu nay không đôn đốc làm việc ấy, chỉ sai khám xét kiện cáo. Trước nay phủ huyện chỉ dựa vào sự bắt bớ tra xét để lấy bổng lộc tiền tài, của dân càng hao, phong tục trong dân càng bạc. Xin định cấp cho bổng lộc thường xuyên và lấy việc liêm hay tham, siêng hay lười để cất nhắc hay bãi chức.
Có 2 loại dân lậu, một loại trốn thuế mà lang thang, một loại đói rét nên xiêu dạt. Lâu nay không phân biệt, cứ ghi cả vào sổ đinh để bắt đóng thuế thân, ắt họ sợ hãi mà lẩn tránh ở núi rừng, dân ở lại phải gánh thuế bù thì sao chịu nổi? Nay xin xét những dân lậu ai còn có nghề làm ăn thì thu thuế như lệ thường, ai đói rét khốn khó thì cho miễn thuế và tìm cách giúp đỡ để cứu người nghèo khổ. Nên để cho dân yên, không nên làm cho động, vì động thì dễ loạn, yên thì dễ trị. Nay bắt dân đi săn bắn ở núi rừng, hết tìm gà lại đòi ngựa, quấy nhiễu dân gian, làm náo động khắp nơi. Từ nay trở đi những sai nhân trong cung ra phải có giấy tờ trình quan địa phương xem xét, ai mà nhiễu dân thì bắt trị tội cho lòng dân yên tĩnh".
Sớ dâng lên không thấy chúa trả lời, Nguyễn Cư Trinh xin từ chức. Chúa bèn triệu về, đổi làm Ký lục dinh Bố Chính. Ông tới trị sở rồi đặt thêm đồn bảo, giữ gìn nghiêm ngặt.
Năm Ất Dậu (1765), Định vương Nguyễn Phúc Thuần nối ngôi, triệu Nguyễn Cư Trinh về kinh, thăng làm Lại bộ kiêm Tào vận sứ. Mùa hạ năm Đinh Hợi (1767), Nguyễn Cư Trinh mất khi 52 tuổi, được phong tặng Tá lý công thần, Đặc tiến Trụ quốc Kim tử Vinh lộc đại phu Chính trị thượng khanh Tham nghị, thụy là Văn Định. Năm 1839, vua Minh Mạng truy lục công trạng, Nguyễn Cư Trinh được truy tặng Khai quốc công thần Vinh Lộc đại phu Hiệp biện đại học sĩ lãnh thượng thư bộ Lại, đổi thụy Văn Khác, phong tước Văn Minh hầu, cho tùng tự ở Thái miếu. (còn tiếp)
Bình luận (0)