Sông xưa là hào lũy
Ở P.Long An, tỉnh Tây Ninh, có con đường mang tên Nguyễn Cửu Vân tại khu vực đầu nguồn sông Bảo Định. Con sông này có nhiều tên gọi như kinh Vũng Gù, kinh Bưu Điện, kinh Trạm, Bảo Định Hà và người Pháp gọi là Arroyo de la Poste.

Bia ký sông Bảo Định
ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG
Sách Gia Định thành thông chí chép, Bảo Định Hà trước là con sông nhỏ chảy đến quán Thị Cai là hết. Ở phía tây, sông nhỏ Mỹ Tho chảy đến chợ Lương Phú (tục gọi Bến Tranh), ở khoảng giữa là ruộng giồng liên tiếp nhau. Xưa giặc thường lợi dụng vùng giồng cao ruộng thấp này quấy nhiễu phía sau quân ta. Năm Ất Dậu (1705), quan Chánh thống Vân Trường hầu cho đắp một chiến lũy dài từ quán Thị Cai tới chợ Lương Phú và cho đào hai đầu ngọn cùn của sông nhỏ Vũng Gù và Mỹ Tho, dẫn nước chảy thông, bên ngoài lũy có hào sâu rộng để việc phòng thủ được nghiêm ngặt.
Về sau, khi đường nước đã thông, lại cho đào sâu thêm, thành đường kinh cho ghe thuyền đi lại được. Nhưng đến chỗ Vọng Thê (tục gọi Thang Trông, là chỗ lúc đầu dựng cái thang cao để đứng nhắm địa thế đào mở, sau thành địa danh) thì thủy triều gặp nhau thành nơi giáp nước, dòng chảy lình bình, lại có nhiều chỗ quanh co hẹp nhỏ, ngày càng bị cạn lấp, ghe thuyền lớn tới đây phải đậu chờ nước lớn mới đi được.

Sông Bảo Định đoạn Bến Tranh
ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG
Năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long sai Trấn thủ Định Tường là Nguyễn Văn Phong lấy 9.679 dân phu của trấn, chu cấp gạo tiền, chia làm 3 phiên, thay nhau đào mở rộng từ đoạn Thang Trông tới Hốc Đùn dài 40 dặm rưỡi. Bề ngang kinh 15 tầm, sâu 9 thước, hai bên có đường quan lộ rộng 6 tầm. Khởi công từ 28 tháng giêng đến ngày 4 tháng tư nhuần thì xong. Khi hoàn tất, vua ban tên là Bảo Định Hà. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825) gọi là sông Trí Tường, nhưng tên này ít người biết.

Sông Bảo Định đoạn Mỹ Tho
ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG
Theo Đại Nam liệt truyện, năm 1705, nước Chân Lạp có biến, anh em Nặc Yêm dấy quân đánh nhau. Nặc Thâm cầu Xiêm cứu viện, Nặc Yêm chạy sang Gia Định. Chúa Nguyễn sai Nguyễn Cửu Vân thống lĩnh quân thủy bộ tiến đánh Nặc Thâm, đến Sầm Giang thì gặp viện binh Xiêm. Nguyễn Cửu Vân đánh tan quân Xiêm, Nặc Thâm chạy sang Xiêm, ông đưa Nặc Yêm về lại thành La Bích.

Vàm sông Bảo Định
ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG
Chân Lạp đã yên, Vân Trường hầu bèn khai khẩn ruộng Vũng Gù để cho quân dân noi theo. Công việc đào kinh được ghi lại trên một tấm bia cổ bằng đá sa thạch gần chợ Thang Trông. Tấm bia được đặt bên trong một ngôi miếu nhỏ ven đường, qua thời gian nay chữ đã phai mờ rất khó đọc.
Con kinh đào đầu tiên
Theo Monographie de la province de My Tho (1902), Bảo Định Hà là con kinh đào đầu tiên dưới thời Nguyễn. Ngoài việc xuất gạo ra ngoài tỉnh hoặc đưa đến các nhà máy xay xát ở Sài Gòn, Chợ Lớn, còn có nhiều loại trái cây, chiếu, đệm bàng, trầu tươi, cau khô, hoặc bán sang Chân Lạp các sản vật như cá khô, mỡ heo, đường, vôi, nước mắm, đồ gốm…

Cầu Quay trên sông Bảo Định
ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG
Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806) của Lê Quang Định chép: "Sông Vũng Gù rộng 67 tầm, bờ phía bắc là cuối địa giới dinh Phiên Trấn, bờ phía nam là đầu địa giới dinh Trấn Định. Tiết hạ chí nước sông trong mà mặn. Mùa xuân, thu và đông thì nước đục mà ngọt và thường lên xuống theo thủy triều… Sông này thông với các kinh chung quanh và rất tiện lợi, dân trong vùng dùng làm đường giao thông. Ven theo bờ là ruộng cấy lúa, đến cầu Thang Trông. Đầu cầu có chợ, dân cư và quán xá rất đông đúc".
Tác giả J.C. Baurac trong Nam Kỳ và cư dân, viết: "Trước khi chiếm được Mỹ Tho, Bourdais, trung tá hải quân Pháp bị giết bởi một quả đạn trái phá trên kinh Trạm. Xưa con kinh này là đường ghe thuyền lưu thông nhộn nhịp nhất, nhưng vị thế của nó bị giảm sau khi kinh đào Chợ Gạo đi vào hoạt động năm 1877. Chưa bao giờ cuộc viễn chinh Nam kỳ lại khó khăn và tổn thất nhân mạng như thế. Những cơn mưa đầu tiên bắt đầu trút xuống, dưới những cơn giông khủng khiếp chỉ thấy ở miền nhiệt đới… Trên đường đi, họ gặp phải biết bao nhiêu ụ pháo, đập chắn và chướng ngại vật đủ loại. Vô số binh lính đã bỏ mạng vì kiệt sức hoặc bị nhiễm dịch tả châu Á".

Cầu Quay xưa
ẢNH: TƯ LIỆU
Vân Trường hầu là người đã góp công lớn trong việc mở mang xứ Nam kỳ. Sau khi ông mất, chúa Nguyễn có châu phê ban cấp tư điền ở một vùng tại tả ngạn sông Vàm Cỏ Tây, gần lỵ sở Tân An, chỗ mà Vân Trường hầu có công khai khẩn. Ruộng này vì vậy gọi là ruộng Châu Phê và ngọn rạch chạy ngang qua đó cũng gọi là rạch Châu Phê. (còn tiếp)
Bình luận (0)