Lãi suất tiết kiệm chưa hạ nhiệt
Cách đây mấy ngày, chị Nguyễn Mai (trú tại TP.HCM) có một sổ tiết kiệm mấy trăm triệu đồng đến hạn. Do tình hình lãi suất tiết kiệm biến động nên chị Mai đã hỏi nhân viên chi nhánh một ngân hàng tại P.Thủ Đức lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng là bao nhiêu để quyết định gửi thì được báo là 8,2%/năm. Cũng chi nhánh nhà băng này gần công ty chị Mai, nhân viên báo lãi suất 8,6%/năm. Thấy cùng một ngân hàng nhưng lãi suất khác nhau, chị Mai thắc mắc. Sau đó nhân viên 2 chi nhánh này phản hồi lên hội sở thì chị Mai chỉ nhận được mức lãi suất là 8,2%/năm. "Do số tiền tôi gửi là vài trăm triệu đồng nên chấp nhận mức lãi suất này, dù sao cũng cao hơn nhiều so với lãi suất mà ngân hàng này công bố (5 - 6%/năm) nên tôi gửi thêm 6 tháng nữa rồi tính tiếp", chị Mai cho hay.
Đối với lãi suất trực tuyến, những kỳ hạn dưới 6 tháng gần như kịch trần 4,75%/năm, từ 6 tháng trở lên có sự phân hóa mạnh mẽ và xuất hiện các mức lãi suất phổ biến từ 6 - 7%/năm. Riêng đối với những khoản tiền gửi lớn, khách hàng còn có thể thương lượng mức lãi suất lên 9%/năm ở kỳ hạn 7 hay 12 tháng. Ngoài ra, lãi suất huy động tiết kiệm tại quầy và trực tuyến cũng có sự phân hóa rõ rệt. Chẳng hạn, gửi tại quầy Vietcombank có lãi suất từ 2 - 6%/năm tùy theo kỳ hạn. Thế nhưng đối với tiết kiệm linh hoạt trên app lại có mức lãi suất vượt trội ở kỳ hạn 6 và 12 tháng, tương ứng 7%/năm và 7,4%/năm. Đồng thời nhà băng này cũng phát hành chứng chỉ tiền gửi trở lại với kỳ hạn 12 tháng có lãi suất 7,4%/năm.

Lãi suất tiết kiệm còn ở mức cao
ẢNH: NGỌC THẮNG
Theo Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, đến 21.6, nhiều ngân hàng tiếp tục niêm yết mức lãi suất huy động sát mức trần 4,75%/năm đối với kỳ hạn 3 tháng (Nam A Bank, OCB, Sacombank, TPBank...). Đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, cuộc cạnh tranh lãi suất vẫn khá sôi động. Nhóm ngân hàng Nhà nước gồm BIDV, Agribank, Vietcombank và VietinBank tiếp tục duy trì mức lãi suất cao nhất khoảng 6%/năm, còn nhiều ngân hàng tư nhân vẫn phải duy trì mức lãi suất cao để cạnh tranh huy động nguồn vốn trung và dài hạn.
Ngoài duy trì lãi suất cao, một số nhà băng còn tung ra các chương trình nhằm huy động vốn, đặc biệt là những ngân hàng lớn. Vietcombank vừa đưa ra chương trình gửi tiết kiệm còn được tặng quyền lợi sản phẩm bảo hiểm sức khỏe có tổng giá trị bảo vệ tối đa lên tới 140 triệu đồng. Còn tại BIDV, khách hàng gửi tiết kiệm trực tuyến hoặc tại quầy từ nay đến 31.7 có cơ hội nhận sổ tiết kiệm trị giá 200 triệu đồng hoặc các giải thưởng khác.
Trong khi đó, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng những ngày gần đây giảm nhiệt ở một số kỳ hạn, nhưng lại tăng ở những kỳ hạn khác trong vòng 1 tuần, tạo ra đường cong lãi suất rõ ràng hơn. Cụ thể, ngày 25.6, lãi suất qua đêm giảm 1,3%/năm so với ngày 19.6, còn 3,16%/năm; 1 tháng giảm 0,3%, còn 7,88%/năm. Thế nhưng kỳ hạn 1 tuần lại tăng 2,2%, lên 7,5%/năm; 2 tuần tăng 0,3%, lên 7,81%/năm… Doanh số vẫn tập trung nhiều ở kỳ hạn qua đêm (hơn 800.000 tỉ đồng) và 1 tuần (hơn 69.000 tỉ đồng). Trên thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm tiền hỗ trợ, trong ngày 29.6 với khối lượng 18.199,67 tỉ đồng, lãi suất 4,5%/năm.
Cải thiện huy động vốn
Động thái hỗ trợ thanh khoản, cũng như nguồn vốn cho các ngân hàng trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế 2 con số được triển khai nhanh trong thời gian gần đây. Mới đây, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 25/2026 có hiệu lực từ ngày 1.7 trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi hệ thống tài chính phải mở rộng khả năng tài trợ vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Theo Công ty Cổ phần chứng khoán Rồng Việt (VDSC), trọng tâm của chính sách không nằm ở việc nới tín dụng đại trà, mà ở việc điều chỉnh các ràng buộc về cấu trúc kỳ hạn và thanh khoản trong bảng cân đối của ngân hàng. Điểm thay đổi quan trọng nhất là nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40% và tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng. Ở góc độ vĩ mô, chính sách thể hiện sự phối hợp có chủ đích giữa tài khóa mở rộng và tiền tệ nới lỏng có trọng điểm: tài khóa tạo nhu cầu vốn thông qua đầu tư công và các dự án trọng điểm, còn chính sách tiền tệ điều chỉnh ràng buộc kỳ hạn để tăng khả năng hấp thụ vốn. Tuy nhiên, việc nới SMLR chỉ mở thêm dư địa về kỳ hạn nguồn vốn, chứ không trực tiếp tạo ra nguồn vốn huy động mới.
Vì vậy, hiệu quả truyền dẫn của chính sách sẽ phụ thuộc lớn vào khả năng cải thiện huy động trong nền kinh tế (thị trường 1), trạng thái LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi) của từng ngân hàng và mức độ ổn định của thanh khoản hệ thống.
"Việc nới tỷ lệ SMLR lên 40% tạo ra dư địa huy động và cho vay có cấu trúc kỳ hạn linh hoạt hơn. Cụ thể, các ngân hàng có thể không chịu nhiều áp lực huy động tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên (có chi phí huy động cao hơn) trong khi vẫn duy trì hoặc tăng được dư nợ cho vay dài hạn có lãi suất đầu ra tốt hơn. Tuy nhiên, khi mà nút thắt về LDR vẫn còn tồn tại khiến áp lực huy động vẫn rất lớn", báo cáo của VDSC nhận định.
Chính phủ cũng vừa yêu cầu Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại nhằm bổ sung thanh khoản cho hệ thống, qua đó hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2026 theo Nghị quyết 168 vừa ban hành. Ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi được ưu tiên sử dụng để tạm ứng cho ngân sách trung ương và địa phương vay. Phần chưa sử dụng sẽ được dùng để mua bán lại trái phiếu Chính phủ hoặc gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại.
Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ động quyết định hạn mức cụ thể sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại (có thể vượt quá 50% khả năng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi) nhằm tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
Tính đến cuối tháng 3, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng đạt khoảng 626.700 tỉ đồng, trong đó hơn 99% được gửi tại bốn ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank. Nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước sẽ giúp các ngân hàng có thêm nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, cho vay và giảm bớt một phần áp lực huy động.
Bình luận (0)