'Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng'
Hơn tám mươi năm trước, ở những con phố chật hẹp Hà thành quanh Hồ Gươm, đã có những địa điểm ghi dấu những sự kiện văn hóa. Người ta đã ghi nhận sự ra đời chính thức của tân nhạc gắn với Hội quán Trí Tri ở 47 Hàng Quạt. Vào ngày 9.6.1938, tại đây đã có buổi giới thiệu ca khúc tân nhạc của Nguyễn Văn Tuyên và được Báo Ngày Nay đăng tải cùng các bài hát của Nguyễn Xuân Khoát, Dương Thiệu Tước, Văn Chung, Lê Yên... Những ngày tháng sau đó, các bài hát mang tên "nhạc cải cách" vẫn mang thân phận ở nhờ những sân khấu chợ phiên, rạp chiếu bóng hay cải lương.

Ban Việt Nhạc
ẢNH: TGCC
Vì thế, các phòng trà ra đời vào cuối năm 1945 như một quy luật tất yếu nhờ quy mô nhỏ gọn, cùng sự góp mặt của lứa nhạc công giàu kinh nghiệm như Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Giệp, Nguyễn Hữu Hiếu, Nguyễn Thiện Tơ… Nhạc sĩ Phạm Duy đã kể lại các phòng trà đầu tiên quanh Hồ Gươm như Quán Nghệ Sĩ ở đường Bờ Hồ, Phòng trà Thăng Long ở Hàng Bông, Tuyết Sơn ở Thợ Nhuộm hay Thiên Thai ở Hàng Gai, nơi ông biểu diễn và giới thiệu Thương Huyền trở thành ngôi sao tân nhạc, bên cạnh các giọng ca nổi bật như Mai Khanh, Kim Tiêu, Bùi Thị Thái (tức NSND Tuyết Mai sau này). Tại đây, cả các bài hát lãng mạn lẫn ca khúc cách mạng đều được vang lên.
Không khí phòng trà thời ấy đã được Trần Đăng chấm phá gợi cảm trong tùy bút Một lần tới thủ đô (1946): "Thủ đô Việt Nam được tô điểm bằng bao nhiêu mầu sắc quốc tế. Đời sống Việt Nam cũng phản chiếu được ngay cái ánh sáng phù hoa ấy. Phòng trà ở góc phố; bàng bạc một ánh sáng đều nhạt, dịu dàng. Những thanh niên tuấn tú ngồi bên những mầu áo thêu hoa. Những tiếng đàn rên rỉ ở những cung trầm…" .
Ký ức về những phòng trà đã trở nên đáng kể trong tạo dựng hình dung về Hà Nội những năm tháng ấy. Phòng trà cho dù chỉ đáp ứng một thiểu số thị dân có điều kiện nhưng vùng âm thanh lan tỏa của chúng rộng hơn, vang hơn trong không gian và thời gian.
Trong thời gian Hà Nội bị tạm chiếm (1947 - 1954), dòng người hồi cư năm 1949 - 1950 kéo theo nhu cầu giải trí đô thị, tạo động lực mở rộng các chương trình âm nhạc trên đài phát thanh và các tiết mục ca nhạc ngắn trước giờ chiếu bóng hoặc giữa buổi diễn sân khấu (như tại rạp Long Biên, Hiệp Thành, Olympia, Mê Linh).
Những giọng ca nổi bật lúc này được quảng cáo là "tinh hoa của âm nhạc cải cách" gồm Minh Đỗ, Ngọc Bảo, Đoàn Minh, Bích Thọ hay nhạc sĩ Hoàng Giác...; tiếp nối là lứa ca sĩ trưởng thành từ các cuộc thi hát của đài phát thanh, chợ phiên như Thanh Hằng, Thanh Hiếu, Trần Ngọc… cùng các nghệ sĩ cải lương lấn sân tân nhạc như Kim Chung, Kim Xuân trong bộ phim ăn khách Kiếp hoa (1953) với các bài Dư âm (Nguyễn Văn Tý), Làng tôi (Chung Quân) hay Cây đàn bỏ quên (Phạm Duy).

Rạp Đại Đồng quảng cáo chương trình ca nhạc
ẢNH: TGCC
Cùng thời gian này, những salon nghệ thuật như của nghệ sĩ dương cầm Tô Anh Đào ở 164 phố Huế và các lớp nhạc của Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Văn Khánh, William Chấn… đã mọc lên thay thế các xóm cô đầu ngày trước, nuôi dưỡng một mỹ cảm Hà Nội để lại dấu ấn lâu dài.
Một áo nhung đen, đèn quay màu tím
Sau khi tiếp quản Hà Nội năm 1954, đời sống âm nhạc mau chóng náo nhiệt trở lại tại các rạp Majestic (Tháng Tám), Eden (Công Nhân)... nhờ các ban nhạc Lúa Vàng, Sóng Vàng, Tự Do và các nhạc sĩ Tu My, Tạ Tấn, Hoàng Dương. Cuối năm 1954, quán Taverne Royale cũ ở Bờ Hồ đổi tên thành Phòng trà Hoa Việt nhưng chỉ tồn tại ngắn ngủi. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý khi trở về Hà Nội sau tiếp quản đã được giao nhiệm vụ "Hà Nội vận" - vận động các nhạc sĩ Hà Nội ở lại sau năm 1954 tham gia sáng tác phục vụ chế độ mới. Một trong những người ông vận động chính là Đoàn Chuẩn.
Đầu năm 1955, rạp Đại Đồng tại 46 Hàng Cót khai trương với giám đốc Đoàn Chuẩn và phó giám đốc Từ Linh, nơi các danh ca Minh Đỗ, Thanh Hằng, Thanh Hiếu hằng đêm chinh phục khán giả Hà thành. Thanh Hằng trở thành nàng thơ tạo cảm hứng cho Đoàn Chuẩn sáng tác Lá đổ muôn chiều, Tà áo xanh, Vàng phai mấy lá… Rạp Đại Đồng duy trì sân khấu ca nhạc sôi nổi như một phòng trà quen thuộc suốt năm 1955, trước khi chấm dứt vào năm 1956 khi Đoàn Chuẩn thôi sở hữu rạp và chuyển sang dạy đàn.

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Văn Cao (trái)
ẢNH: TGCC
Từ thời điểm này, sân khấu ca nhạc chuyển dần sang các sân khấu ngoài trời và nhà văn hóa do nhà nước quản lý. Nhưng tự thăm thẳm trí nhớ, vẫn còn những dư âm.
Ngày nay, khi phòng trà quay trở lại đời sống đô thị, khán giả vẫn hồi cố những bóng dáng sân khấu xưa. Trong ca khúc cuối đời của mình, Đoàn Chuẩn đã nhớ lại không khí thăng hoa nghệ thuật ấy: "Một gói nho khô, một cánh pensée. Một áo nhung đen, lấp lánh ánh đèn, đèn quay màu tím… Tim cũng không ngờ, làm nên lời ca" (Một gói nho khô, một cánh pensée - 1988).
Những chất liệu nhỏ bé như áo nhung đen, ánh đèn quay màu tím đã đi vào ký ức, được không gian hóa và chứa đựng hồn vía cả một thời đoạn, một tuyên ngôn nghệ thuật và một cá tính đô thị. (còn tiếp)
(Trích từ cuốn Dấu vân tay của phố, tác giả Nguyễn Trương Quý, NXB Hà Nội và Công ty Nhã Nam)










Bình luận (0)