Non sông trong tâm thức người Việt

Trong tiếng Việt, hiếm có từ nào vừa giản dị, vừa hàm chứa nhiều ý nghĩa như non sông. Từ hai dạng thực thể của tự nhiên - non (núi) và sông (nước) - người Việt đã khái quát nên toàn bộ không gian sinh tồn của dân tộc mình.

Khác với khái niệm lãnh thổ có ý nghĩa pháp lý và địa chính trị, non sông với người Việt là một khái niệm văn hóa. Nó không chỉ bao hàm không gian địa lý của quốc gia mà còn tích hợp ký ức lịch sử, bản sắc văn hóa, chủ quyền chính trị và tình cảm cộng đồng. Vì thế, khi người Việt nói đến non sông, thì điều được nhắc tới không đơn giản là núisông, mà họ đang nói về quê hương và đất nước, về lịch sử và văn hóa, là những điều thiêng liêng đã kiến tạo nên Tổ quốc và bản sắc dân tộc.

Non sông trong tâm thức người Việt- Ảnh 1.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (thời điểm đó đang giữ cương vị Tổng Bí thư) và ông Nguyễn Duy Ngọc (thời điểm đó là Bí thư Thành ủy Hà Nội) cùng các đại biểu dâng hương tại tượng đài Vua Lý Thái Tổ tối 16.2.2026 trước thời khắc giao thừa chào Xuân Bính Ngọ 2026

Ảnh: TTXVN

1.Trong ký ức của người Việt, non sông ra đời từ thuở các vua Hùng dựng nước. Từ nền tảng của văn minh Đông Sơn rực rỡ, tỏa rộng ở lưu vực sông Hồng - sông Mã - sông Cả, nhà nước Văn Lang của các vua Hùng ra đời, từng bước hình thành hệ thống tổ chức chính trị sơ khai, thiết lập kinh đô ở miền thượng du và các thiết chế quản lý lãnh thổ. Nhà nước Âu Lạc kế tục đã vươn về hạ du, chiếm lĩnh và làm chủ vùng châu thổ phì nhiêu, xây thành đắp lũy để bảo vệ giang sơn, mà việc xây dựng thành Cổ Loa dưới thời An Dương Vương là một điển hình. Những vòng thành Cổ Loa kiên cố không chỉ nhằm chống lại các cuộc xâm lăng từ phương Bắc mà còn biểu tượng cho khát vọng giữ gìn non sông của cư dân Việt cổ.

Thất bại của An Dương Vương trước Triệu Đà mở đầu gần 1.000 năm Bắc thuộc. Các triều đại phương Bắc đã áp đặt sự thống trị chính trị, dùng chính sách đồng hóa văn hóa, ngôn ngữ, phong tục nhằm xóa bỏ bản sắc người Việt. Song dù mất độc lập, người Việt không đánh mất ý thức về non sông. Phong tục nơi làng xã vẫn được giữ gìn, tiếng Việt vẫn tồn tại trong đời sống, tín ngưỡng bản địa song hành với những yếu tố ngoại nhập từ phương Bắc.

Sức sống văn hóa ấy đã tạo nền tảng cho các cuộc đấu tranh giành lại độc lập của người Việt. Mở đầu là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào năm 40 (sau Công nguyên) chống lại nhà Đông Hán, giành quyền kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn - 65 thành trì - trong hơn 3 năm liền. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa không chỉ là chiến thắng quân sự mà còn khơi dậy ý thức dân tộc. Hai câu thơ dân gian nói về cuộc khởi nghĩa này: "Một xin rửa sạch nước thù. Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng" đã khái quát khát vọng giành độc lập và khôi phục quốc gia của người Việt.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị dập tắt, nhưng người Việt không bao giờ từ bỏ khát vọng khôi phục non sông cho dân tộc mình trong suốt một thiên niên kỷ bị phương Bắc đô hộ. Các cuộc dấy binh của Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng… dù thành công hay thất bại đều phản ánh một thực tế lịch sử quan trọng: ý chí giành lại non sông của người Việt chưa bao giờ bị dập tắt.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền là một trong những cột mốc vĩ đại. Nếu gần 1.000 năm Bắc thuộc là thời kỳ người Việt kiên trì gìn giữ bản sắc dân tộc trong hoàn cảnh mất chủ quyền, thì chiến thắng ấy đã mở ra một thời đại độc lập, tự chủ lâu dài của Đại Việt. Từ đây, non sông trở thành thực thể chính trị độc lập, do người Việt quản lý và bảo vệ.

Non sông trong tâm thức người Việt- Ảnh 2.

Hình ảnh Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo trên phù điêu đá sau tượng đài Lê Lợi ở tỉnh Thanh Hóa

Ảnh: Trần Đình Ba

Nếu chiến thắng Bạch Đằng đánh dấu sự khôi phục nền độc lập, thì từ thời Tiền Lê (980 - 1009) và thời Lý (1009 - 1225) trở đi là giai đoạn ý thức về quốc gia độc lập được xác lập rõ nét trên cả phương diện chính trị, văn hóa và tư tưởng. Biểu tượng tiêu biểu của ý thức ấy được thể hiện trong hai câu mở đầu của bài thơ Nam quốc sơn hà, được ví là "tuyên ngôn độc lập đầu tiên" của dân tộc Việt Nam: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…".

Hai câu thơ ngắn gọn nhưng đã khẳng định 3 nội dung mang ý nghĩa nền tảng: đất nước phương Nam là nơi vua phương Nam ở; ranh giới quốc gia đã được xác lập, không thể xâm phạm; chủ quyền ấy là lẽ phải hiển nhiên, phù hợp với đạo trời và chính nghĩa. Bài thơ không chỉ nhằm cổ vũ tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm của quân dân Đại Việt, mà còn góp phần hình thành một nhận thức mới về non sông. Nếu trước đó non sông chủ yếu được cảm nhận bằng tình yêu quê hương và ký ức cội nguồn, thì nay non sông gắn liền với chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết của dân tộc.

Sang thời Trần, ý thức ấy được nâng cao qua cuộc kháng chiến chống Mông Cổ (1258) và 2 cuộc kháng chiến chống Nguyên (1285, 1288). Đế quốc Mông Cổ và hậu thân của nó là Đại Nguyên hùng mạnh nhất đương thời, từng "làm cỏ" nhiều quốc gia - dân tộc từ Á sang Âu trong suốt thế kỷ 13, đã bị một quốc gia nhỏ là Đại Việt đánh bại 3 lần. Trong bối cảnh đó, bài Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn như một áng "thiên cổ hùng văn", vừa là lời hiệu triệu quân sĩ, vừa là bản tuyên ngôn về trách nhiệm bảo vệ non sông. Chiến thắng Bạch Đằng 1288 một lần nữa khẳng định điều đó. Từ đây Bạch Đằng trở thành biểu tượng bất diệt của ý chí giữ nước.

Đầu thế kỷ 15, Đại Việt lại rơi vào ách đô hộ của nhà Minh. Một lần nữa, dân tộc Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ mất nước và bị đồng hóa. Trong bối cảnh ấy, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo là sự tiếp nối tất yếu của truyền thống bảo vệ non sông. Mười năm kháng chiến chống Minh gian khổ (1418 - 1427) kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang, mở đường cho sự ra đời của triều Hậu Lê và thời kỳ hưng thịnh bậc nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Thành tựu lớn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn không chỉ là đánh đuổi quân Minh mà còn để lại cho lịch sử dân tộc một áng văn chính luận kiệt xuất: Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

Non sông trong tâm thức người Việt- Ảnh 3.

Trong tâm thức người Việt, non sông bao hàm những điều thiêng liêng kiến tạo nên lịch sử, hiện tại và tương lai đất nước

Ảnh: Tuấn Minh

Nguyễn Trãi khẳng định chủ quyền quốc gia không chỉ bằng lãnh thổ mà bằng văn hiến lâu đời, phong tục riêng, lịch sử riêng và truyền thống anh hùng: "Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương". Lời khẳng định ấy không chỉ đặt Đại Việt ngang hàng với các triều đại Trung Hoa mà còn xác lập một nhận thức sâu sắc về tính liên tục của quốc gia Việt Nam. Non sông Đại Việt không phải là sản phẩm nhất thời của một triều đại mà là thành quả được tạo dựng và gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Cuối thế kỷ 18, đất nước bị chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài, nội chiến kéo dài, các thế lực ngoại bang can thiệp. Phong trào Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ nhanh chóng trở thành lực lượng thống nhất đất nước và bảo vệ độc lập.

Sau khi đánh bại quân Xiêm ở phương Nam vào năm 1785, chỉ 4 năm sau Nguyễn Huệ lại phải đối mặt với thử thách lớn hơn nhiều: cuối năm 1788, nhà Thanh đưa hàng chục vạn quân sang xâm lược nước ta. Một lần nữa, non sông Đại Việt đứng trước nguy cơ bị đặt dưới ách thống trị của ngoại bang. Trong hoàn cảnh cấp bách ấy, Nguyễn Huệ lên ngôi trở thành vua Quang Trung, thống lĩnh quân binh từ Phú Xuân thần tốc tiến ra Bắc đối đầu quân xâm lược. Trên đường tiến quân, vua Quang Trung đọc hiệu dụ: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho chúng chích luân bất phản. Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ".

Chỉ trong 5 ngày Tết Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn thắng liên tiếp ở Hà Hồi, Ngọc Hồi, Đống Đa và tiến vào Thăng Long. Đại quân nhà Thanh tan rã, tháo chạy về nước. Vua Quang Trung đã hoàn thành 3 sứ mệnh lớn trước lịch sử: chấm dứt chia cắt đất nước, đánh bại quân Xiêm và quân Thanh, khơi dậy ý thức độc lập và bản sắc văn hóa.

2. Tháng 9.1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng, mở đầu gần một thế kỷ Việt Nam bị phương Tây đô hộ. Kinh đô Huế thất thủ năm 1885 đánh dấu sụp đổ nền quân chủ độc lập. Tuy nhiên, mất chủ quyền chính trị không đồng nghĩa với khuất phục. Tinh thần yêu nước được khơi dậy mạnh mẽ. Câu nói của Nguyễn Trung Trực đã trở thành biểu tượng: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây". Lời nói ấy không chỉ thể hiện quyết tâm kháng chiến mà còn khẳng định một chân lý lịch sử: khi non sông còn bị xâm lược, lòng yêu nước của người Việt sẽ không bao giờ bị dập tắt. Non sông ở đây không chỉ là lãnh thổ bị chiếm đóng mà còn là phẩm giá của cả một dân tộc.

Non sông trong tâm thức người Việt- Ảnh 4.

Mũi tên đồng Cổ Loa

Ảnh: Ngọc Thắng

Phong trào Cần Vương ra đời sau khi vị vua yêu nước Hàm Nghi ban dụ Cần Vương (13.7.1885) quy tụ văn thân, sĩ phu và nhân dân đồng lòng chống giặc. Lòng trung quân hòa quyện với lòng yêu nước. Những phong trào yêu nước kế tiếp phong trào Cần Vương, được lãnh đạo bởi Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, dù đi theo những con đường khác nhau, với các phương pháp khác nhau, tựu trung, đều nhằm một mục đích: khôi phục non sông. Lúc này, non sông đã từ một biểu tượng gắn với triều đại, trở thành khái niệm hàm ý quốc gia - dân tộc, nơi mọi người dân có trách nhiệm với vận mệnh chung.

Cách mạng Tháng Tám 1945 vĩ đại thành công. Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Ba Đình, tuyên bố ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Non sông trở thành hiện thực chính trị. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, thực dân Pháp đã quay lại, khiến dân tộc Việt Nam phải bước vào cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" và Hiệp định Genève lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Hiệp định Genève tạm thời chia cắt đất nước ở vĩ tuyến 17. Nỗi đau chia cắt - hình ảnh sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, gia đình ly tán - trở thành động lực thống nhất.

3. Ngày 30.4.1975 đánh dấu chiến tranh kết thúc, mở ra một chương mới trong lịch sử Việt Nam. Sau nhiều thế kỷ liên tục phải đối mặt với các cuộc chiến tranh giữ nước, đất nước thống nhất trên một lãnh thổ toàn vẹn, từ địa đầu Lũng Cú đến mũi Cà Mau, từ Trường Sơn hùng vĩ đến Biển Đông rộng lớn.

Đối với người Việt Nam, ý nghĩa của ngày thống nhất không chỉ nằm ở thắng lợi quân sự hay sự thống nhất về mặt hành chính, mà sự thống nhất ấy đã khép lại hành trình lịch sử kéo dài hơn một thế kỷ đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ toàn vẹn non sông.

Nếu ở thời đại Hùng Vương, non sông là cội nguồn của cộng đồng; ở thời Ngô Quyền, Lý, Trần và Lê, non sông là biểu tượng của chủ quyền quốc gia; ở thời Quang Trung, non sông là sự thống nhất và bản sắc văn hóa dân tộc, thì từ năm 1858 - 1975, non sông trở thành khát vọng độc lập, tự do và thống nhất của cả dân tộc Việt Nam. Chính khát vọng ấy đã kết nối quá khứ với hiện tại, hun đúc nên sức mạnh tinh thần để dân tộc Việt Nam vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất trong lịch sử và tiếp tục gìn giữ non sông cho các thế hệ mai sau.

***

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, non sông Việt Nam không ngừng được bồi đắp bằng mồ hôi, trí tuệ và máu xương của biết bao thế hệ. Mỗi chiến thắng trước ngoại bang đều góp thêm một tầng ý nghĩa mới cho khái niệm non sông. Sức mạnh bảo vệ non sông của người Việt không chỉ dựa vào vũ khí hay thành lũy, mà chính từ sự đồng thuận của cộng đồng và tinh thần đoàn kết dân tộc. Mỗi khi non sông lâm nguy, mọi tầng lớp nhân dân đều gác lại những khác biệt để cùng hướng về lợi ích tối cao của dân tộc. Chính sự đồng lòng ấy đã tạo nên nguồn nội lực giúp Việt Nam nhiều lần vượt qua những đối thủ hùng mạnh hơn mình gấp bội.

Và, trong thời đại ngày nay, giá trị của non sông không chỉ được đo bằng diện tích lãnh thổ hay tiềm lực kinh tế, mà còn được đo bằng ý thức của mỗi người dân trong việc trân trọng quá khứ, xây dựng hiện tại và chuẩn bị tương lai cho đất nước.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.