Sáng đầu tháng 9.2026, chúng tôi tìm đến Bảo tàng Biệt động Sài Gòn - Gia Định (ở phường Tân Định, TP.HCM) để gặp lại bà Phạm Thị Minh Nguyệt (80 tuổi), nữ y tá kiêm giao liên Biệt động Sài Gòn theo lịch đã hẹn trước.
Trong gian trưng bày những kỷ vật thời chiến, bà Nguyệt dừng lại trước căn phòng có di ảnh ông Năm Lai, tức cố Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Lai. Bà chắp tay thật lâu, ánh mắt đượm buồn, giọng nghẹn lại: "Lâu lắm rồi mới được gặp ông đó chú Năm, mới đó mà ngày nào chú cháu mình cũng gặp nhau".

Bà Nguyệt xúc động khi trở lại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn - Gia Định, nơi lưu giữ nhiều kỷ vật của đồng đội năm xưa
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Đi thêm một vòng, bà Nguyệt dừng chân trước tấm bảng đồng ghi danh những chiến sĩ Biệt động Sài Gòn. Ngón tay run run lần theo từng bức ảnh, từng cái tên quen thuộc...
Lời hẹn dở dang của những chiến sĩ Biệt động Sài Gòn
Bà Nguyệt kể, năm 1962, bà tham gia phong trào tại Mỹ Thạnh Bắc (Long An cũ). Ban đầu, bà làm nhiều việc ở cơ sở như đấu tranh trực diện, đào kênh, đắp cản, rồi làm thư ký ban cán sự. Năm 1963, bà học cứu thương và phụ trách ban y tế.

Ở tuổi 80, bà Phạm Thị Minh Nguyệt vẫn nhớ rõ từng nhiệm vụ sinh tử trong Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Sống và chiến đấu nơi căn cứ, bà Nguyệt nói quân và dân ta đối mặt nhiều thiếu thốn. Từng miếng gạc của thương binh được gom lại, bỏ xà bông nấu sôi trên bếp lửa, giặt sạch rồi phơi khô. Gạc được xỏ qua cọng kẽm, hong dưới nắng gắt cho khô, sau đó xếp vào từng chiếc lon rồi hấp hơn 1 giờ để khử trùng.
Nhưng rồi lời nhắc của thế hệ đi trước đã giúp họ đứng vững: "Bộ đội ngoài mặt trận hy sinh cả xương máu, mình ở tuyến sau phục vụ đồng đội thì không có lý do gì để thoái lui cả".

Những kỷ vật tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn - Gia Định gợi lại trong bà Nguyệt ký ức về một thời chiến tranh khốc liệt
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Nhớ lại những ngày đầu mới vào nghề, bà không quên cảm giác run khi lấy ven cho thương binh nặng.
"Hồi mới vào nghề, tôi run tay chích mạch cho thương binh nặng. Ven mạch các anh teo tóp lại, tôi tìm mạch chích trượt mấy cái. Vậy mà các anh chỉ cắn răng, vỗ vai an ủi ngược lại tôi: 'Cứ chích đi, anh không có đau đâu'. Nghe câu đó, tôi rớt nước mắt vì thương đồng đội", bà xúc động.

Bà Phạm Thị Minh Nguyệt lần theo những bức ảnh, tên tuổi đồng đội trên bảng ghi danh chiến sĩ Biệt động Sài Gòn
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Trước đợt 2 Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khí thế ở các cánh quân rất sôi sục. Nhiều chiến sĩ hẹn nhau: "Kỳ này nhất định gặp lại nhau trên đường tráng nhựa nhé".
Niềm tin lớn đến mức có người phấn khởi quăng bỏ cả mùng mền, tin rằng chuyến đi này sẽ toàn thắng trở về. Thế nhưng, chiến sự khốc liệt ngoài dự liệu, lời hẹn mãi dang dở.
"Những người lính ngã xuống nơi cửa nội thành khi ấy đa số đều còn rất trẻ, chỉ độ mười tám đôi mươi", bà Nguyệt rưng rưng.
Khi được hỏi điều gì bà nhớ nhất trong những năm tháng tham gia kháng chiến, bà lặng đi rồi nhắc đến lần tiếp nhận du kích Phạm Văn Tự. Ông Tự là bộ đội địa phương, bị thương rất nặng. Khi được chuyển ra tuyến sau, ông đã bị đứt động mạch cảnh (mạch máu chính nằm ở hai bên cổ, có chức năng đưa khoảng 70% lượng máu giàu ô xy từ tim lên nuôi dưỡng não bộ và vùng đầu, mặt).
"Tôi lấy kẹp pen kẹp lại mạch máu, mà máu vẫn chảy ướt đẫm bộ bà ba tôi đang mặc", bà run run kể.
Biết mình khó qua khỏi, ông Tự nắm chặt tay bà Nguyệt rồi nói: "Nguyệt ơi, chắc anh chết nghen". Theo bà, ông Tự là người con thứ 6 trong gia đình. Sau đó, người em trai thứ 7 của ông là Mười Tường cũng ngã xuống ngoài mặt trận.
Ký ức Mậu Thân 1968: vượt bom B52 trên sông Vàm Cỏ Đông
Không chỉ trực tiếp băng bó, cứu thương, bà Nguyệt còn nhận nhiệm vụ đưa thương binh từ vùng ven rút về căn cứ điều trị.
"Nghĩ lại, ám ảnh nhất vẫn là đợt 2 Mậu Thân 1968. Khốc liệt lắm, các cô khó mà hình dung được. Bộ đội mình tấn công vào nội thành Sài Gòn rồi lui quân, thương binh nhiều vô kể", bà nói.
Để đưa thương binh vượt sông, các chiến sĩ được đặt nằm cẩn thận trên xuồng ba lá hoặc ghe lườn rồi lặng lẽ bơi sang bờ.

Trong Mậu Thân 1968, bà Phạm Thị Minh Nguyệt nhiều lần vượt sông Vàm Cỏ Đông để đưa thương binh về căn cứ
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Bà nhớ mãi một đêm cuối tháng 5.1968. Sau khi chuyển xong một chuyến thương binh về căn cứ an toàn, khoảng 8 giờ tối, bà cùng đồng đội quay trở lại bến sông Vàm Cỏ Đông. Bằng linh cảm của người đã quen sống giữa bom đạn, bà nhắc mấy chiến sĩ đi cùng: "Kiểu im ắng này chắc lát nữa B52 rải thảm quá, mấy anh chuẩn bị". Nghe vậy, đồng đội tặc lưỡi: "Nhỏ này nó trù thấy ghê quá".
Bà Nguyệt vẫn cẩn trọng gom toàn bộ túi thuốc men và dụng cụ y tế nhét vào tấm ni lông đi mưa, lấy sợi thun luồn quần quấn thật chặt miệng bao. Là con gái miền sông nước, bà tính trước: bọc ni lông ấy vừa giữ thuốc men không bị ướt, vừa có thể làm "trái nổi" cứu sinh nếu gặp biến.

Nữ y tá Biệt động Sài Gòn từng gom từng miếng gạc, nấu sôi, phơi khô rồi khử trùng để cứu chữa thương binh
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Xuồng vừa ra giữa dòng, tiếng động cơ B52 gầm rú. Bom rải thảm trút xuống dữ dội ngay khúc sông. Bà Nguyệt ôm chặt bọc ni lông làm phao, nương theo dòng nước xiết bơi thục mạng sang bờ. Nhưng vừa trườn lên mép bờ, đợt bom tiếp theo ập tới...
"Đối phương rải dưới sông, mình bò lên bờ nó lại thả tiếp trên bờ. Lúc đó chẳng còn chỗ trốn, chỉ biết nằm rạp xuống đất. Nếu trúng thì chịu, bom đạn như thế, sống sót được chỉ nhờ đạn tránh mình thôi", bà nói.
"Lúc đó thật tình chẳng còn biết sợ là gì nữa. Mấy anh em chỉ tâm niệm một điều: cứ coi như thả mình vào cái chết để tìm ra lẽ sống thôi", bà nói thêm.
Mật thư dưới đế giày con trai, vượt trạm gác vào Sài Gòn năm 1975
Tháng 6.1970, bà Nguyệt chuyển sang hoạt động công khai tại Huyện ủy Đức Huệ (Long An cũ), vận động tản quân và tổ chức cơ sở mật.
Đến tháng 2.1975, bà tham gia lực lượng Biệt động Sài Gòn, thuộc V16, Đoàn 195, làm nhiệm vụ đưa rước khách, chuyển vũ khí từ căn cứ vào nội thành.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, bà nhận nhiệm vụ đưa thư trực tiếp cho cơ sở nội đô, rồi được phân công dẫn đường cho Bộ Tham mưu Miền (cơ quan tham mưu chiến lược trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền ở chiến trường Nam bộ).

Năm 1975, bà Nguyệt từng giấu tài liệu mật dưới đế giày con trai để vượt qua các trạm gác vào nội thành Sài Gòn
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Kỷ niệm bà Nguyệt nhớ nhất là lần chuyển tài liệu, thư từ mật lệnh từ căn cứ trao tận tay các cơ sở biệt động tại khu vực chợ Bà Chiểu (quận Bình Thạnh cũ).
Khi ấy, các ngả đường vào Sài Gòn bị kiểm soát dày đặc. Trạm gác giăng khắp nơi, lính đối phương lùng sục, xét hỏi gắt gao. Giữa tình thế nguy hiểm, người nữ giao liên quyết định bế theo con trai nhỏ, ngụy trang thành 2 mẹ con đi lại bình thường để qua mắt địch.
"Tài liệu, thư từ mật lệnh được tôi xếp thật mỏng, khéo léo giấu kín dưới đế giày của con trai 5 tuổi rồi dắt con đi. Qua các trạm gác gắt gao, lính lục soát, tra hỏi đủ điều nhưng không ai ngờ tài liệu cơ mật của cách mạng lại nằm ngay dưới gót chân của một đứa trẻ con", bà Nguyệt chia sẻ.
Suốt chặng đường dài, lính địch xới tung từng món đồ dùng, săm soi từng ngóc ngách hành lý nhưng không phát hiện dấu vết khả nghi. "Chưa từng có tiền lệ nào chúng đi kiểm tra dưới đế giày cả, nên tôi cũng đành bấm bụng đánh liều để hoàn thành nhiệm vụ", bà nói.
Nhờ sự gan dạ và cơ trí ấy, toàn bộ tài liệu cơ mật được chuyển đến điểm hẹn an toàn.

Bà Nguyệt và ông Ngô Việt Thọ (con trai Biệt động Sài Gòn Ngô Thanh Vân, bí danh Ba Đen - người chỉ huy trận tấn công một địa chỉ quan trọng ở nội thành Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968)
ẢNH: HÀ THƯƠNG
Sau ngày đất nước thống nhất, lực lượng Biệt động Sài Gòn hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Bà Nguyệt xin chuyển ngành, gắn bó với ngành y tế ở Bến Lức (Long An cũ, nay thuộc Tây Ninh) cho đến khi nghỉ hưu năm 2002.
Tuy nhiên, ngọn lửa cống hiến của nữ chiến sĩ áo trắng năm xưa vẫn chưa tắt. Hơn 20 năm qua, bà cùng các y bác sĩ là cựu chiến binh thành lập đoàn khám bệnh từ thiện trực thuộc Hội Chữ thập đỏ TP.HCM, cùng đoàn đi đến nhiều bản làng Việt Nam, sang Lào, Campuchia để khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho người nghèo.
Bình luận (0)