Địa điểm nói trên trong quá khứ từng là Khách sạn Carlton, nơi mà năm 1913, Bác từng trú ngụ và làm việc. Hơn 30 năm sau đó, ý niệm về một nước Việt Nam hiện đại đã trở thành hiện thực, là thành tựu của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và gắn với tên tuổi Hồ Chí Minh.
Việt Nam - hai chữ thiêng liêng
Trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã xuất hiện những mốc lớn ghi dấu bằng quốc hiệu trên từng chặng đường lịch sử. Từ Văn Lang thời các Vua Hùng dựng nước đến Âu Lạc, Vạn Xuân…, vượt qua ngàn năm thử thách thời Bắc thuộc để đến Đại Việt thời tự chủ của các triều đại Lý, Trần, Lê xây đắp nền văn hiến và đánh bại mọi thế lực ngoại xâm.
Theo các nhà ngôn ngữ học và nghiên cứu lịch sử, 2 chữ "Việt Nam" đã được sử dụng từ lâu để thể hiện sự tách lập của "Người Việt phương Nam" trong cộng đồng Bách Việt từ rất xa xưa. Đến đầu thế kỷ 20, các nhà yêu nước đã dùng danh xưng "Việt Nam" để làm biểu trưng cho sự thay đổi trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp: Việt Nam Quang Phục Hội của những tên tuổi lẫm liệt như Phan Bội Châu, Thái Phiên, Trần Cao Vân..., Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính..., rồi Hội Việt Nam cách mạng thanh niên được Nguyễn Ái Quốc thành lập và dẫn dắt đến đỉnh cao là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.

Nhân dân Hà Nội biểu tình tại Quảng trường Nhà hát lớn phản đối quân đội Anh ngang nhiên dùng vũ lực chiếm Nam bộ ngày 14.9.1945
Ảnh: Tư liệu của tác giả
Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nửa đầu thế kỷ 20 với lớp lớp người ngã xuống rồi đứng dậy kiên trì đấu tranh giành độc lập đã làm nên quốc hiệu Việt Nam. Nước Việt Nam hiện đại, với tư cách là một quốc gia độc lập xuất hiện trước thế giới vào ngày 2.9.1945.
Từ Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh dõng dạc tuyên bố: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập". Với quốc dân đồng bào, quốc hiệu Việt Nam đã được trang trọng công bố trong Công báo ngày 28.8.1945. Lựa chọn đó đã được quyết định bằng sự đồng thuận của đại diện nhân dân cả nước dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào ngày 16.8.1945. Như vậy, nước Việt Nam hiện đại đã ra đời theo quy trình rất đặc trưng của một nền dân chủ hiện đại.
Theo dòng chảy tiến bộ của thời đại
Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ thiên tài và tầm nhìn được hun đúc từ hành trình bôn ba sống, học tập, nghiên cứu và chiến đấu, đã lựa chọn điều tốt nhất cho dân tộc mình và phù hợp với thời đại. Một thể chế chính trị phù hợp với tất cả những chuẩn mực của một Nhà nước hiện đại đã được xác lập trên toàn lãnh thổ Việt Nam như bản Tuyên ngôn độc lập đã viết: "Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa".

Biển lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở London, Anh
Ảnh: Tư liệu của tác giả
Không phải tự nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những đoạn bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791) trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Thông điệp của Dân tộc Việt Nam trong bản tuyên ngôn với thế giới khẳng định sự kế thừa và tiếp tục dòng chảy tiến bộ của lịch sử nhân loại. Và thực tế lịch sử những thập niên tiếp theo đã chứng minh: Đóng góp của Việt Nam vào dòng chảy ấy như biểu tượng cho quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc cũng chính là quyền được hưởng cái giá trị "không có gì quý hơn" là Độc lập, Tự do của các dân tộc vốn bị coi là "nhược tiểu", mở ra kỷ nguyên giải phóng các nước thuộc địa.
Một bộ máy nhà nước tuy còn non trẻ đã hình thành từ nguyên lý: "Nếu không có nhân dân thì nhà nước không đủ lực lượng, Nếu không có chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên chính phủ và nhân dân phải đoàn kết thành một khối... Chính phủ hứa với dân sẽ gắng sức làm ai nấy đều có phần hạnh phúc...Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh" (Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài Sao cho được lòng dân, bút danh Chiến Thắng, Báo Cứu Quốc, ngày 12.10.1945). Một hệ thống hành chính được thiết lập với tinh thần "Ủy ban Nhân dân là ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng, Nó phải hành động đúng tinh thần tự do, dân chủ đó" (Báo Cứu Quốc ngày 19.9.1945).
Bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua ghi rõ trong Lời nói đầu: "Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ... và phải xây dựng trên nguyên tắc dưới đây: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo - Đảm bảo các quyền tự do dân chủ - Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân".
Lịch sử đã ghi nhận một đất nước vừa giành được độc lập, vừa thoát khỏi chế độ phong kiến và thuộc địa, với nền kinh tế nghèo nàn, kiệt quệ vì chiến tranh, thiếu ăn và thất học, bị cô lập với thế giới bên ngoài đã phát huy tinh thần "lấy sức ta tự giải phóng cho ta" để nhanh chóng xây dựng một thể chế theo những nguyên lý phổ quát nhất của thế giới hiện đại. Một cuộc tổng tuyển cử bảo đảm quyền bình đẳng giới rất cao, có tới 10 nữ đại biểu Quốc hội. Vào thời điểm ấy, nhiều quốc gia phát triển vẫn chưa thực hiện được điều đó. Một Quốc hội được bầu theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên nguyên lý bình đẳng nam nữ, tôn giáo, sắc tộc đã tạo nên sức mạnh đồng thuận của khối đại đoàn kết toàn dân.
Xác lập vị thế quốc tế của Việt Nam
Từ lúc Thế chiến 2 bùng nổ (1939), đặc biệt là lúc chiến tranh lan sang châu Á - Thái Bình Dương (1941), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn vị trí quan trọng cho cách mạng Việt Nam là đứng về phía Đồng minh. Rồi chỉ hơn một tháng sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 22.10.1945, Người gửi tới Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ thông điệp của nhà nước Việt Nam: "Những nguyên tắc cao quý của sự công bằng và bình đẳng quốc tế về địa vị được nêu trong Bản Hiến chương đã lôi cuốn mạnh mẽ dân Việt Nam… Hiến chương Đại Tây Dương được xem như nền tảng của nước Việt Nam trong tương lai". Trên cơ sở pháp lý này, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu được gia nhập Liên Hiệp Quốc, 2 ngày trước khi tổ chức này tuyên bố thành lập chính thức (24.10.1945).
Cụ thể hơn, năm 1946, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi tới Liên Hiệp Quốc một thông điệp rõ ràng: "Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: a. Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; b. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; c. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hiệp Quốc".
Kế thừa thành quả đáng tự hào
Nói đến một nước Việt Nam hiện đại không chỉ là sự kế thừa thành tựu của nhân loại mà còn phải thấy tính sáng tạo của dân tộc ta mà hiện thân là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nói về quốc hiệu, từ năm 1976, sau khi nước nhà thống nhất đã chuyển từ Dân chủ Cộng hòa thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa và vẫn giữ nguyên dòng tiêu ngữ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh yêu cầu mọi văn bản chính thức đều phải có đính kèm với quốc hiệu. Người đã nhiều lần nhấn mạnh: "Độc lập, Tự do mà Dân không hạnh phúc là vô nghĩa".
Ngày nay, giữa một thế giới đầy biến động, Việt Nam giữ vững đường lối đối ngoại kiên định về nguyên tắc độc lập, tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, đa phương hóa, đa dạng hóa, vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Và thực tế là ngay từ những ngày mới ra đời, nước Việt Nam độc lập đã đưa ra thông điệp "làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, tr. 256).
Từ năm 2004, Chính phủ có "Ngày Doanh nhân Việt Nam", mới đây Đảng ra Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân thì gốc gác của nó cũng chính là những gì Bác Hồ viết một cách dễ hiểu trong lá thư gửi các nhà công thương ngày 13.10.1945: "quốc gia hưng thịnh thì các nhà công thương cũng hưng thịnh...".
Ôn lại Cái thuở ban đầu Dân quốc ấy (Xuân Diệu 1947), mới thấy hết tầm vóc của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát là "Một cuộc thắng lợi chưa từng thấy" (Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà, 17.9.1945). Từ bước khởi đầu ấy đã tạo nên nguồn lực vĩ đại mà nhờ đó trải qua hơn 8 thập niên đầy thử thách, nước Việt Nam hiện đại vượt qua tất cả để trưởng thành, phát triển và giờ đây tự tin vươn mình vào những thử thách mới, chân trời mới…
Bình luận (0)