Tăng tốc kênh huy động vốn quốc tế

Nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất lớn nhưng đang phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng khiến áp lực gia tăng.

Áp lực huy động vốn lên cao

Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong kỷ nguyên mới thì cả nước rất cần nguồn vốn lớn. TS Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển VN (BIDV), kiêm Giám đốc Viện Đào tạo và nghiên cứu BIDV, tính toán: Giai đoạn 2026 - 2030, vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng bình quân khoảng 13 - 15% mỗi năm, tương đương nhu cầu vốn khoảng 280 - 300 tỉ USD mỗi năm. Trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra không chỉ là huy động đủ vốn mà còn phải đa dạng hóa các kênh dẫn vốn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Tăng tốc kênh huy động vốn quốc tế- Ảnh 1.

Thị trường chứng khoán sẽ là kênh dẫn vốn ngoại cho nền kinh tế sau khi được nâng hạng

ẢNH: NHẬT THỊNH

TS Lực phân tích: Đến cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng/GDP của VN đã lên tới 144,3%, mức cao so với các nền kinh tế tương đồng. Đến hết tháng 9.2026, dư nợ tín dụng đã vượt quy mô tiền gửi khoảng 2 triệu tỉ đồng. Vốn ngân hàng vẫn chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn của nền kinh tế, trong khi thị trường vốn, bao gồm cổ phiếu và trái phiếu, chỉ chiếm khoảng 14 - 15%. Nếu tính thêm trái phiếu Chính phủ, tỷ trọng này vào khoảng 23 - 24%. Nhưng trong mô hình phát triển hướng tới sự bền vững, thị trường vốn cần chiếm khoảng 30% trở lên, nhằm giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, những thách thức từ quy mô tín dụng/GDP đang ở mức cao và tình trạng tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn đã xuất hiện từ năm 2021. Nếu tín dụng tiếp tục tăng 15 - 16% mỗi năm trong khi GDP danh nghĩa tăng khoảng 10%, tỷ lệ tín dụng/GDP có thể lên tới 180% vào năm 2030. Điều này đặt ra yêu cầu phải kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, đồng thời phát triển thị trường chứng khoán và các kênh huy động vốn dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng bền vững.

Thực tế, tỷ trọng vốn ngân hàng quá lớn đã gây áp lực lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng, đồng thời trở thành rào cản đối với việc giảm mặt bằng lãi suất. Bởi khi mặt bằng lãi suất đi lên, người gửi tiền có thể được hưởng lợi, nhưng các chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn sẽ phải đối mặt với chi phí tài chính cao hơn.

VN cần thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn lực khác như tài chính xanh, tài chính bền vững quốc tế, thặng dư thương mại, kiều hối, nguồn vốn từ việc nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng, cùng các thị trường tài sản số, tài sản mã hóa và thị trường carbon.

TS Cấn Văn Lực

Trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế rất lớn, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang nỗ lực điều hành nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, qua đó hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng. Trong đó có Đề án 1413 về cải cách tổng thể thị trường tài chính VN đến năm 2045 đặt ra mục tiêu đến năm 2030 nâng giá trị huy động vốn qua thị trường vốn lên 28 - 30% tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội, tăng lên 30 - 35% vào năm 2045. Thị trường vốn cũng được định hướng đáp ứng 60 - 65% nhu cầu vay của Chính phủ thông qua trái phiếu Chính phủ...

TS Cấn Văn Lực nhấn mạnh, vốn tư nhân trong nước ngày càng giữ vai trò quan trọng, trong khi dư địa huy động từ nguồn tiết kiệm trong dân có dấu hiệu thu hẹp. Vì vậy, VN cần thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn lực khác như tài chính xanh, tài chính bền vững quốc tế, thặng dư thương mại, kiều hối, nguồn vốn từ việc nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng, cùng các thị trường tài sản số, tài sản mã hóa và thị trường carbon.

Bên cạnh đó, các nguồn lực đang tồn đọng như vàng trong dân, vốn ách tắc tại các dự án, tài sản công dôi dư và nguồn lực tiết kiệm từ chống lãng phí cũng có thể tạo ra dòng vốn lớn nếu được khơi thông bằng các cơ chế phù hợp. Ngoài ra, doanh nghiệp (DN) cũng cần chủ động hơn trong việc tiếp cận các kênh huy động vốn, thay vì chỉ tập trung vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Tăng tốc kênh huy động vốn quốc tế- Ảnh 2.

Phát triển thị trường vốn để giúp VN huy động dòng vốn nhiều hơn cho nhu cầu phát triển kinh tế. Trong ảnh: Hơn 140 nhà đầu tư trong nước và quốc tế tham dự Hội nghị nhà đầu tư 2026 do VinaCapital tổ chức giữa tháng 10 tại TP.HCM

ẢNH: VINACAPITAL

Thị trường vốn còn khiêm tốn

Theo số liệu của Bộ Tài chính, tính đến hết tháng 9 năm nay, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt hơn 10,3 triệu tỉ đồng, tăng 3,3% so với cuối năm 2025; quy mô thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,94 triệu tỉ đồng. Trong 9 tháng năm 2026, tổng mức huy động vốn qua thị trường chứng khoán (gồm cổ phiếu và trái phiếu) đạt 731.600 tỉ đồng, tăng 85,6% so với cùng kỳ năm trước. Dòng vốn huy động thông qua thị trường chứng khoán vẫn còn quá khiêm tốn so với mục tiêu được đặt ra là huy động vốn khoảng 5,4 triệu tỉ đồng trong giai đoạn 2026 - 2030.

Đáng chú ý, ngày 21.9 vừa qua, thị trường chứng khoán VN chính thức được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp theo phân loại của FTSE Russell. Dấu mốc này ghi nhận những nỗ lực cải cách thể chế, nâng cấp hạ tầng và cải thiện khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài. Việc nâng hạng mở ra cơ hội thu hút các dòng vốn đầu tư quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về minh bạch thông tin, quản trị DN, chất lượng hàng hóa và năng lực vận hành thị trường theo các chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM cùng Trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng mới chính thức ra đời từ đầu năm nay. Cả hai trung tâm tài chính đều đã xúc tiến và ký ghi nhớ hợp tác đầu tư với hàng loạt tập đoàn, các tổ chức tài chính trong nước và ngoài nước; được kỳ vọng trở thành kênh dẫn vốn, đặc biệt là dòng vốn đầu tư nước ngoài cho VN.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhận định, nâng hạng thị trường chứng khoán và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại VN được xem là hai kênh quan trọng để thu hút nguồn vốn nước ngoài. Trong đó, việc nâng hạng thị trường chứng khoán là cú hích đáng kể, giúp VN gia tăng khả năng tiếp cận các quỹ đầu tư quốc tế, thu hút dòng vốn ngoại và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho DN huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu. Tuy nhiên, việc được nâng hạng thị trường chứng khoán mới chỉ là điều kiện cần, vấn đề mấu chốt là làm sao khuyến khích nhà đầu tư giải ngân vào VN.

"Hiện nay, mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của VN vẫn nằm ở mức dưới mức đầu tư. Do đó, Chính phủ cần đẩy mạnh quảng bá các thuận lợi kinh tế và tìm giải pháp nâng bậc xếp hạng tín nhiệm để thoát khỏi mức rủi ro này", ông Hiếu đề xuất.

Tăng tốc kênh huy động vốn quốc tế- Ảnh 3.

Tăng tốc phát triển thị trường vốn để giảm bớt áp lực lên hệ thống ngân hàng

ẢNH: NGỌC THẮNG

Một lý do khác khiến dòng vốn ngoại sau nâng hạng chưa vào mạnh như kỳ vọng do vấp phải những biến động bất lợi trên thế giới, đó là xung đột địa chính trị (Trung Đông, Nga - Ukraine), chính sách thuế quan của Mỹ, mặt bằng lãi suất thế giới neo cao để kiềm chế lạm phát và áp lực tỷ giá. Bên cạnh đó, hai trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng cần có thời gian từ 6 - 12 tháng để vận hành, cũng như các nhà đầu tư nước ngoài cần thời gian quan sát, đánh giá.

"Mặc dù hai kênh này mang lại triển vọng dài hạn, nhưng thị trường vốn của VN hiện vẫn chưa đủ độ sâu để hấp thụ và thay thế hoàn toàn kênh ngân hàng. Nền kinh tế được dự báo vẫn tiếp tục phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng trong ít nhất 2 năm tới, đòi hỏi Chính phủ cần sớm xây dựng một lộ trình cụ thể để từng bước kéo tỷ lệ tín dụng/GDP về dưới mức an toàn 100%", chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho hay.

Cần khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế

TS Cấn Văn Lực cũng đồng tình nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao trong 5 năm tới là rất lớn, trong khi dư địa tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng đang dần thu hẹp. Vì thế, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để khơi thông các kênh dẫn vốn khác cho nền kinh tế. Trong đó, quyết liệt nhất là thúc đẩy phát triển thị trường vốn, bao gồm thị trường cổ phiếu, trái phiếu, các quỹ đầu tư và những kênh dẫn vốn khác. Đối với thị trường chứng khoán truyền thống cũng cần được chấn chỉnh. Dư nợ cho vay ký quỹ (margin) đã tăng cao, trong khi vốn hóa thị trường tập trung lớn vào ngành ngân hàng và bất động sản, có thể tiềm ẩn rủi ro hệ thống khi thị trường đảo chiều.

Từ đó, ông Lực đề xuất nghiên cứu cho phép mã hóa tài sản bất động sản và chứng khoán (tokenization) trên nền tảng blockchain để giao dịch, qua đó đẩy nhanh tốc độ luân chuyển dòng tiền. Bởi thực tế VN có lượng tài sản bất động sản rất lớn nhưng tính thanh khoản còn hạn chế. Việc mã hóa tài sản có thể chia nhỏ giá trị đầu tư, tạo điều kiện để các nhà đầu tư cá nhân tham gia mua bán, trao đổi trên môi trường số một cách minh bạch, an toàn và mở ra khả năng giao dịch xuyên biên giới và không bị giới hạn bởi thời gian. Giải pháp này không chỉ giúp các chủ đầu tư bất động sản huy động vốn nhanh hơn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng mà còn tạo thêm một lớp tài sản giao dịch mới cho thị trường tài chính.

Đồng thời, cần tiếp tục đa dạng hóa và khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế, bao gồm các dự án tồn đọng, tài sản và nguồn tiền gửi tiết kiệm trong dân cư. Việc tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông các nguồn lực đang bị ách tắc sẽ tạo thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Song song đó, cần tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô để củng cố niềm tin của người dân, nhà đầu tư và DN. Khi niềm tin được nâng cao, dòng vốn đầu tư sẽ có điều kiện chảy mạnh hơn vào nền kinh tế.

Một vấn đề khác là muốn giảm chi phí vốn quốc tế, cần cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Hiện VN vẫn còn cách mức xếp hạng đầu tư khoảng một bậc. Mục tiêu đặt ra là phấn đấu đạt mức xếp hạng đầu tư trước năm 2030. Khi đạt được mức xếp hạng này, VN có thể giảm chi phí huy động vốn từ nước ngoài, đồng thời tạo điều kiện thu hút dòng vốn quốc tế mạnh mẽ hơn. Quá trình nâng hạng tín nhiệm quốc gia cần sự phối hợp giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

TS Cấn Văn Lực khuyến nghị: Các DN cũng cần đa dạng hóa nguồn vốn, không nên chỉ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Cả trên thế giới và tại VN đều có nhiều kênh dẫn vốn khác mà DN có thể tiếp cận, như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, huy động vốn từ các quỹ đầu tư và các nguồn lực trong nước, quốc tế. Điều này đòi hỏi DN phải nâng cao năng lực quản trị, đáp ứng các chuẩn mực khắt khe về công bố thông tin và báo cáo tài chính.

Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu thừa nhận, ngân hàng vẫn có vai trò quan trọng đối với vốn lưu động, thanh toán, tín dụng thương mại. Điều cần thay đổi là giảm sự phụ thuộc quá mức vào ngân hàng trong việc tài trợ các nhu cầu đầu tư dài hạn. Để làm được điều đó, VN cần phát triển đồng bộ ít nhất 4 cấu phần, đó là thị trường cổ phiếu, giúp DN có thêm vốn chủ sở hữu, cải thiện năng lực tài chính và chia sẻ rủi ro đầu tư với cổ đông. Thị trường trái phiếu tạo nguồn vốn trung và dài hạn, với yêu cầu rõ ràng về công bố thông tin, xếp hạng tín nhiệm và bảo vệ nhà đầu tư. VN cũng cần thúc đẩy phát triển các định chế đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí và các tổ chức quản lý tài sản có khả năng huy động tiền tiết kiệm để đầu tư vào nền kinh tế. Cuối cùng là Trung tâm tài chính quốc tế tại VN tạo điều kiện kết nối các nguồn vốn quốc tế với DN và dự án trong nước thông qua các sản phẩm và cơ chế tài chính phù hợp.

Như vậy, việc nâng hạng thị trường chứng khoán và Trung tâm tài chính quốc tế tại VN chỉ phát huy đầy đủ tác dụng khi được đặt trong một chương trình phát triển tổng thể của thị trường vốn.

Mục tiêu cuối cùng không phải là thu hút vốn ngoại bằng mọi giá. Mục tiêu là xây dựng một cấu trúc tài chính, trong đó ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các định chế tài chính quốc tế cùng chia sẻ vai trò cung ứng vốn. Khi đó, VN mới có thể giảm dần áp lực lên tín dụng ngân hàng, tạo nguồn vốn dài hạn cho đầu tư và nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động của dòng vốn quốc tế.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu

Nâng cao năng lực của DOANH NGHIỆP để thu hút được dòng vốn

VN cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và trái phiếu DN, nhằm đa dạng hóa nguồn huy động vốn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, cần phát triển các kênh thu hút vốn đầu tư dài hạn, trong đó có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và trung tâm tài chính quốc tế.

Các thị trường nói trên đã có, điều quan trọng là DN cần chuẩn hóa các tiêu chuẩn mới có thể huy động được các nguồn vốn trên thị trường cũng như nước ngoài. Đó là công khai, minh bạch tình hình tài chính, minh bạch dự án và kế hoạch kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị DN…

Việc thu hút dòng vốn bên ngoài (kể cả qua kênh FDI hay trung tâm tài chính) cũng phụ thuộc trực tiếp vào năng lực cạnh tranh của DN và triển vọng sinh lời của dự án. Điều này sẽ củng cố niềm tin của nhà đầu tư, góp phần thu hút được các dòng vốn trong và ngoài nước.

Chuyên gia kinh tế - TS Nguyễn Đức Độ

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.