Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam: Tuyên Trung hầu, người khai lãnh thổ, định biên nhung

Sách Đại Nam nhất thống chí chép: "Nguyễn Văn Tuyên người huyện Vĩnh An, đầu đời trung hưng theo quân đi đánh dẹp, lập nhiều chiến công, làm đến Vệ úy… Theo Lê Văn Duyệt đi đánh ác man ở Quảng Ngãi, lại đem quân vào đào kinh Vĩnh Tế, sau làm Trấn thủ hai tỉnh Định Tường và Vĩnh Thanh, lại làm Án thủ Châu Đốc bảo hộ nước Cao Miên".

Khai lãnh thổ, định biên cương

Chỉ vài dòng như vậy cũng đủ nói đến công lao to lớn của ông. Nhưng có 2 câu đối khắc ở lăng Tuyên Trung hầu (ấp An Ninh, xã Mỹ An Hưng, tỉnh Đồng Tháp) còn rõ hơn: "Thống lãnh Nam kỳ, uy vũ nhất phương thiên thu lưu tích sử/Chế ngự phiên bang, đức bạt nhị đồ vạn tái kỷ tiêu danh" (Thống lãnh Nam kỳ, uy vũ phủ một phương, ngàn thu lưu sử sách/Chế ngự lân bang, đức cao trùm hai cõi, muôn thuở tạc danh thơm). "Khai lãnh thổ, định biên nhung, trường lưu vĩ tích/Nhận hoàng thân, ban quốc tính, vĩnh hiển vinh phong" (Mở mang bờ cõi, định yên biên thùy, công lao giúp đời còn truyền giữ/Nhận làm hoàng thân, ban cho quốc tính, phong hầu rạng rỡ mãi vẻ vang).

Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam: Tuyên Trung hầu, người khai lãnh thổ, định biên nhung- Ảnh 1.

Lăng Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Theo thực lục, Tuyên Trung hầu chính danh là Phan Văn Tuyên. Nhờ lập nhiều công lớn trong công cuộc dẹp giặc, giữ yên bờ cõi phương Nam nên được triều đình ban quốc tính theo họ của vua thành họ Nguyễn. Đền thờ ông hiện còn khắc chữ Phan Tông ở hậu cổng.

Thân phụ của Tuyên Trung hầu là Phan Văn Hậu, quê quán làng Kiêm Toàn, huyện Phú Xuân, tỉnh Thừa Thiên. Cụ làm quan đến Vệ úy, về sau được truy phong Anh dũng tướng quân, Khinh xa đô úy, Thần sách vệ úy Nguyễn hầu. Thân mẫu là cụ Võ Thị Đức, sắc phong mỹ hiệu Thục nhân. Gia đình cụ vào Nam thời loạn lạc Trịnh - Nguyễn phân tranh và Tây Sơn khởi nghĩa. Buổi đầu dừng chân ở đất Gia Định, sau về miền Tây, định cư ở làng Tòng Sơn (khu vực nay là xã Mỹ An Hưng, tỉnh Đồng Tháp).

Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam: Tuyên Trung hầu, người khai lãnh thổ, định biên nhung- Ảnh 2.

Lăng Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Tuyên Trung hầu sinh năm Quý Tỵ (1763), là trưởng nam trong gia đình có ba anh em trai. Năm 25 tuổi, ông xin đầu quân chúa Nguyễn, nhờ tài năng nên được cất nhắc lên chức Thần sách quân Hổ oai vệ úy và được liệt vào hàng tâm phúc của chúa. Năm 1803, ông được thăng Chấn võ quân nhất bảo vệ úy rồi Khâm sai chưởng cơ, Thống chế… Mùa đông năm Kỷ Mão (1819), ông góp công lớn vào việc đào kinh Vĩnh Tế ở Châu Đốc cùng với Thoại Ngọc Hầu. Sang đời Minh Mạng, ông tiếp tục được triều đình trọng dụng và giữ nhiều chức vụ như Trấn thủ Biên Hòa, Trấn thủ Định Tường, Trấn thủ Vĩnh Thanh. Năm Minh Mạng thứ 9, ông được thăng Thống chế cai quản biền binh Gia Định thành, bao gồm lục tỉnh Nam kỳ...

Năm 1827, trong thời gian Tả quân Lê Văn Duyệt về kinh, ông giữ quyền Tổng trấn Gia Định. Năm 1829, khi Thoại Ngọc Hầu đương nhiệm Bảo hộ Cao Miên qua đời, ông được triều đình bổ dụng thay thế. Trong sắc chỉ của vua Minh Mạng ghi rõ, chức vụ của ông là "Thống chế lãnh Bảo hộ Cao Miên quốc ấn, Án thủ Châu Đốc đồn kiêm lãnh Hà Tiên trấn biên vụ, Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên". Ông giữ chức Bảo hộ hơn một năm thì lâm bệnh, từ trần ngày 28 tháng 5 năm Tân Mão (1831) tại đồn Châu Đốc. Hiện nay, miêu duệ của ông vẫn lấy ngày này làm ngày cúng giỗ, cũng là ngày lễ hội truyền thống của họ tộc.

Cuộc cải táng quy mô

Người trông nom lăng Tuyên Trung hầu hiện nay là anh Nguyễn Trường Nhật, cháu đời thứ 9 của ông, cho biết khu lăng mộ xưa nằm bên bờ sông Tiền, do bị sạt lở nên được cải táng về đây vào năm 1971. Hiện khu mộ được sơn mới, lót nền gạch, tôn tạo lại khá quy mô, thêm bảng đá khắc chữ quốc ngữ trên các bia mộ. Từ cổng chính vào, mộ Tuyên Trung hầu nằm phía trước, hai bên có 2 khẩu súng thần công. Phía sau là ngôi mộ song hồn, nơi an nghỉ của thân phụ, thân mẫu của Tuyên Trung hầu là cụ ông Phan Văn Hậu và cụ bà Võ Thị Đức.

Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam: Tuyên Trung hầu, người khai lãnh thổ, định biên nhung- Ảnh 3.

Phủ thờ Tuyên Trung hầu

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Theo anh Nguyễn Trường Nhật, các vị con cháu 4 đời của Tuyên Trung hầu cũng được an táng tại đây. Lúc di dời từ khu lăng mộ cũ đã có mộ ông Nguyễn Trường Cửu, con trưởng nam của Tuyên Trung hầu, từng giữ chức Phó lãnh binh Trấn Tây thành triều Minh Mạng, được phong An Hà đốc phủ, tử trận tại Cao Miên. Bà Đặng Thị Vị, chánh thất Phó lãnh binh Nguyễn Trường Cửu, được sắc phong Đặng Thục thị An Nhơn và ông Nguyễn Công Lực, em trai của Tuyên Trung hầu, Đô úy triều Minh Mạng, tử trận tại Gò Sặt, Cao Miên.

Học giả Nguyễn Hiến Lê trong bài Cuộc bốc mộ vĩ đại của Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên tại Sa Đéc đăng trên tạp chí Bách Khoa số ra ngày 1.7.1971, tường thuật: "Cuộc cải táng được xem là quan trọng vì nơi khai quật là Lăng Ông được bao thế hệ người dân sùng kính. Nhưng vì nước sông Tiền xói mòn gây sụp lở, cổng lăng đã nằm kề mặt nước, nhưng nhiều người vẫn còn do dự vì kiêng sợ uy đức của người nằm dưới huyệt. Rồi một hôm ông xã trưởng sở tại được báo mộng phải dời lăng, vì đất sụp lở không còn có thể bảo vệ được khuôn viên khu lăng mộ được nữa. Ngay sau đó ông tới đền thờ đốt nhang xin keo lần cuối".

Theo dấu tiền nhân mở cõi phương Nam: Tuyên Trung hầu, người khai lãnh thổ, định biên nhung- Ảnh 4.

Cổng sau phủ thờ Tuyên Trung hầu khắc chữ Phan Tông

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Cuộc cải táng bắt đầu ngày 15.5.1971, với sự chung tay của người dân và chính quyền địa phương. Ông Nguyễn Trường Chấp là miêu duệ của Tuyên Trung hầu làm chủ lễ. Lăng xây bằng đá ong, vôi cát trộn với ô dước. Hàng trăm người luân phiên khai quật suốt 4 ngày mà không xuể nên phải nhờ xe chuyên dụng của công binh quân đội đến hỗ trợ. Sau 3 ngày, xe chuyên dụng mới khai quật được các huyệt. Người ta đếm được cả thảy có 6 mộ phần, trong đó có 2 mộ còn nguyên vẹn. Riêng mộ Tuyên Trung hầu nặng hơn một tấn, phải dùng xe cần cẩu để nâng. Quan tài làm bằng gỗ giáng hương, sơn màu đen, lúc đó đã hơn 140 năm mà vẫn còn mùi thơm phảng phất...

Sau một tuần làm việc, người ta đặt các hài cốt vào những cái quách mới. Riêng quan tài Tuyên Trung hầu vẫn còn nguyên vẹn, bên trong có một cái hòm bọc lụa. Lúc bấy giờ họ tộc thống nhất giữ nguyên, không mở ra, rồi làm lễ di quan đến một nền đất cao, bên cạnh đền thờ Tuyên Trung hầu ở tả ngạn sông Cái Tàu Thượng. Sau đó mới mở cuộc vận động xây cất lăng mộ với sự hỗ trợ của chính quyền sở tại và các thân hào nhân sĩ ở 3 tỉnh Sa Đéc, An Giang và Kiến Phong (cũ). (còn tiếp)

Khám phá thêm chủ đề

Phương nam Chúa Nguyễn Nam Kỳ

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.