Ưu tiên đánh giá nguy cơ tự kỷ, sức khỏe tâm thần theo nhóm tuổi

Liên Châu
Liên Châu

Với lứa tuổi mầm non, cần ưu tiên cao cho chăm sóc răng sữa và hướng dẫn vệ sinh răng miệng từ sớm; cải thiện chất lượng bữa ăn bán trú; sàng lọc phát hiện sớm rối loạn phát triển và nguy cơ tự kỷ. Với lứa tuổi THPT, cần tập trung bảo vệ thị lực và sức khỏe tâm thần trong giai đoạn thi cử áp lực cao.

Đó là khuyến nghị chung từ kết quả nghiên cứu "Mô hình bệnh tật ở trẻ em TP.Hà Nội" được TS-BS Ngô Quang Hùng, Giám đốc Bệnh viện Nhi Hà Nội, cho biết tại Hội nghị Nhi khoa Hà Nội 2026, tổ chức ngày 9.10. Nghiên cứu thực hiện trên cơ sở dữ liệu khám sức khỏe định kỳ học sinh Hà Nội từ tháng 5 - 9.2026 với 169.352 trẻ đã được khám tại 78/126 xã, phường (do Bệnh viện Nhi Hà Nội và một số đơn vị khác triển khai).

Theo kết quả từ dữ liệu nghiên cứu, mô hình bệnh tật ở trẻ em Hà Nội hiện mang tính "gánh nặng kép": khu vực ngoại thành và mầm non nghiêng về suy dinh dưỡng, trong khi nội thành, tiểu học, THPT nghiêng về bệnh không lây nhiễm và bệnh học đường (tật khúc xạ, béo phì), phản ánh đặc trưng dịch tễ học của quá trình đô thị hóa. 90,3% trẻ được khám sàng lọc có ít nhất một vấn đề sức khỏe bất thường; các bệnh về răng miệng chiếm 67,7%; mắt, tật khúc xạ 26,1%; thừa cân, béo phì chiếm 20%; suy dinh dưỡng 11,6%.

Ưu tiên đánh giá nguy cơ tự kỷ, sức khỏe tâm thần theo nhóm tuổi - Ảnh 1.

90,3% trẻ được khám sàng lọc có ít nhất một vấn đề sức khỏe bất thường

ẢNH: PHẠM THẢO

Tỷ lệ bệnh "điển hình" trong từng khu vực: tật khúc xạ cao nhất ở nội thành (30,6%); khu vực ngoại thành có tỷ lệ cao nhất nhóm các bệnh về răng miệng (67%) và suy dinh dưỡng (13,8%). Khu vực đô thị mở rộng có tỷ trọng cao nhất ở hầu hết các nhóm bệnh chính: răng hàm mặt (30,5%); mắt (13%), thừa cân, béo phì (10,1%).

Với từng nhóm bệnh theo lứa tuổi, nghiên cứu cho biết thừa cân, béo phì cao nhất ở nhóm tiểu học (6,2%), giảm dần ở cấp THCS và THPT (3,5%). Điều đó cho thấy tiểu học là giai đoạn nguy cơ cao nhất cần ưu tiên can thiệp dinh dưỡng, vận động. Riêng bệnh về mắt, nguy cơ mắc tật khúc xạ tăng nhanh theo cấp học phản ánh tác động tích lũy của thời gian học tập. Trong đó, các yếu tố liên quan tật khúc xạ tại nhóm mầm non chỉ 0,1%; tiểu học và THCS là 40,4% và 51,3%; THPT chiếm 68,6%. Nghiên cứu khuyến nghị trẻ lứa tuổi tiểu học và THCS cần dành mức ưu tiên "rất cao" cho can thiệp béo phì và tật khúc xạ; mầm non cần ưu tiên sàng lọc sớm suy dinh dưỡng và nguy cơ tự kỷ.

Theo TS Ngô Quang Hùng, đây là nghiên cứu từ số liệu thu thập từ khám sức khỏe định kỳ tại cộng đồng, trường học, không bao gồm hồ sơ điều trị nội trú. Do đó, các nhóm bệnh thường được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện (hô hấp, tiêu hóa, tim mạch...) có tần suất ghi nhận thấp hơn thực tế, chưa phản ánh đầy đủ gánh nặng bệnh nặng ở trẻ em.

Về lâu dài, Hà Nội cần duy trì, xây dựng hệ thống giám sát bệnh tật trẻ em, liên thông dữ liệu giữa Bệnh viện Nhi Hà Nội, trạm y tế, nhà trường; kết hợp dữ liệu khám sàng lọc với dữ liệu điều trị nội trú, ngoại trú để đánh giá đầy đủ hơn nhóm bệnh hô hấp, tiêu hóa, tim mạch.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.