'Nơi linh thiêng phát nguồn đạo vàng'
Nhạc phẩm Từ Đàm quê hương tôi nổi tiếng của nhạc sĩ Văn Giảng (tức Nguyên Thông) có đoạn ca từ tha thiết: "Quê hương tôi miền Trung/Sớm hôm chuông chùa nhẹ rung/Tiếng muôn đời hồn tổ tiên kiêu hùng/Ôi uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm/Nơi yêu thương phát nguồn đạo vàng…".
Không phải ngẫu nhiên mà người nhạc sĩ gốc Huế, gia đình có truyền thống theo Phật đã viết như vậy. Lời ca ấy nhắc nhớ đến sự kiện lịch sử Phật giáo gắn liền với chữ "Ấn Tôn", tức nơi ấn chứng sự ra đời của một tông phái, dòng thiền Liễu Quán.

Toàn cảnh chùa Từ Đàm chụp từ trên cao
ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN
Ngôi chùa nằm trên đồi cao, mặt hướng về phía đông nam. Chùa xưa do tổ sư Tử Dung, thuộc phái Lâm Tế đời thứ 34, khai sơn. Ban đầu, ngài lập am tu bằng tre lá trên núi Hoàng Long vào năm 1690. Sau đó, am tu được nâng cấp thành chùa và có tên là Ấn Tôn năm 1702, trùng với năm sa môn Liễu Quán đến cầu pháp. Một năm sau đó (1703), chúa Nguyễn Phúc Chu ban sắc tứ đặt tên là Ấn Tôn Tự. Đến năm 1841, vua Thiệu Trị đã đổi tên thành Từ Đàm, hàm nghĩa "đám mây lành", do kỵ húy tên vua Thiệu Trị (Miên Tông). Đến năm 1965, sau khi xây cổng tam quan, chùa đã gộp hai tên cũ thành Ấn Tôn Từ Đàm Tự.
Về sau, chùa Từ Đàm trùng tu nhiều lần và xây dựng thêm nhiều hạng mục. Chánh điện xây bằng bê tông, theo kiến trúc trùng thiềm điệp ốc của kiến trúc chùa Huế vào năm 2006. Bảo tháp Ấn Tôn bên phải phía trước chùa cao 7 tầng, xây năm 2008 - 2010. Bên trái sân chùa còn có cây bồ đề được đại đức Karada người Tích Lan (Sri Lanka) tặng vào năm 1939, lấy giống từ gốc cây bồ đề ở Tích Lan có nguồn gốc từ cây bồ đề đạo tràng Ấn Độ nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo. Hiện nay, biển tên chùa có 2 mặt, mặt trong chữ Hán, mặt ngoài chữ Quốc ngữ.
Cảnh quan chùa hiện nay là một quần thể kiến trúc rộng lớn giới hạn giữa 3 con đường Phan Bội Châu, Điện Biên Phủ và Ấu Triệu. Nơi đây cũng là trụ sở của Ban trị sự Giáo hội Phật giáo VN TP.Huế, diễn ra các sự kiện Phật giáo lớn và các đại lễ Phật đản (rằm tháng 4 âm lịch), Vu lan (rằm tháng 7 âm lịch)...

Chùa Từ Đàm trang hoàng lễ đài trong ngày đại lễ Phật đản
ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN
10 năm khảo hạch mới 'ấn tôn'
Trở lại hành trạng tầm sư học đạo của thiền sư Liễu Quán, như đã đề cập ở kỳ trước, sau khi rời Thuận Hóa trở về quê đốn củi phụng dưỡng cha già, đến năm Nhâm Ngọ (1702) ngài quay lại Thuận Hóa và tìm đến Hoàng Long sơn bái sư với hòa thượng Tử Dung.
Văn bia Vô lượng tại bảo tháp của ngài Liễu Quán (bản dịch và chú giải của cố đại lão hòa thượng Thích Thiện Siêu) cho biết, khi tiếp nhận học trò, hòa thượng Tử Dung đưa ra công án: "Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ?" (nghĩa là: Muôn pháp quy về một, một về đâu?). Lĩnh pháp xong, ngài Liễu Quán trở về miệt mài tham cứu nhưng không tìm ra câu giải đáp nên bản thân cảm thấy rất hổ thẹn. Một hôm nhân đọc Truyền đăng lục, gặp câu "Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ" (nghĩa là: Chỉ vật truyền tâm, chỗ mà người ngoài cuộc không hiểu được), ngài hoát nhiên đại ngộ.
Dù đã thấu đạt công án, ngài Liễu Quán phải ròng rã 10 năm hành trì (từ 1702 - 1712), qua nhiều lần khảo hạch khắt khe mới được thầy chính thức ấn chứng. Năm 1712, khi hòa thượng Tử Dung vào Quảng Nam tham dự lễ Toàn viện, ngài Liễu Quán mới trình lên bài kệ "dục Phật" (tắm Phật). Xem bài kệ, hòa thượng chất vấn lần cuối: "Tổ tổ tương truyền, Phật Phật thụ thụ, vị thẩm truyền thụ cá thậm ma" (Tổ tổ truyền cho nhau, Phật Phật trao cho nhau, chưa rõ truyền trao cái gì ấy?). Lúc này, ngài Liễu Quán đáp: "Thạch duẩn trừu điều trường nhất trượng, Quy mao phủ phất trọng tam cân" (Măng đá mọc chồi dài một trượng, Chổi quét lông rùa nặng ba cân).

Tháp tổ Minh Hoằng - Tử Dung ở thôn Ngũ Tây, P.An Cựu, TP.Huế hiện nay
ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN
Hòa thượng Tử Dung hỏi tiếp: "Cao cao sơn thượng hành thuyền, Thâm thâm hải để tẩu mã" (Thuyền trượt trên núi cao, ngựa chạy dưới đáy biển, nghĩa là gì?). Ngài Liễu Quán đáp: "Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống, Một huyền cầm tử tận nhật đàn" (Trâu đất gãy sừng rống thâu đêm, đàn cầm không dây gảy suốt ngày).
Đến đây, hòa thượng Tử Dung mới chính thức tin tưởng ấn chứng cho học trò. Cùng năm 1712, ngài trở về mở cửa giảng truyền tâm pháp, chính thức lập nên thiền phái Liễu Quán.
Hòa thượng Thích Hải Ấn, Viện trưởng Học viện Phật giáo VN tại TP.Huế (hiện là trú trì đời thứ 10 của chùa Từ Đàm), cho biết tổ sư Liễu Quán đã sáng lập nên một dòng thiền mới ở Đàng Trong đậm nét bản sắc văn hóa Việt. Nếu thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do Phật hoàng Trần Nhân Tông khai lập là dòng thiền thứ nhất của VN, thì thiền phái Liễu Quán là dòng thiền Việt thứ 2 của dân tộc.(còn tiếp)
Chùa Từ Đàm cũng là nơi khởi nguồn của phong trào chấn hưng
Phật giáo Trung kỳ vào những năm 1920, ra đời An Nam Phật học hội (sau đổi lại là Hội Phật học Trung Việt, năm 1932), đến năm 1935 môn phái Lâm Tế đồng thuận giao chùa để làm nơi thờ phụng và làm trụ sở của hội, năm 1938 đổi tên thành Hội Phật học Thừa Thiên và trùng tu chùa. Đây cũng là nơi ra đời Gia đình Phật tử Phổ Hóa (1943), sau đổi tên thành Gia đình Phật tử (1951); nơi diễn ra Đại hội thành lập Tổng hội Phật giáo VN và Hội nghị thành lập Hội Phật giáo VN (1951), phê chuẩn văn thư gia nhập Phật giáo thế giới. Từ năm 1960 trở đi, chùa Từ Đàm là trung tâm của phong trào đấu tranh Phật giáo chống lại chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm.










Bình luận (0)