Chùa xưa gốc đạo vững bền
Từ ngã tư đường Võ Văn Kiệt (thường gọi đường Tự Đức - Thủy Dương) rẽ lên đường Thiên Thai phía tây nam TP.Huế rồi đi tiếp chừng 2 km là đến núi Thiên Thai. Tổ đình (ngôi chùa tổ) Thiên Thai Thiền Tôn Tự nằm trên đồi cao nhìn xuống vùng đất bằng có con suối chảy quanh co trong khu dân cư. Trong quần thể cảnh quan núi Thiên Thai, ngoài tổ đình còn có khu bảo tháp tổ thiền Liễu Quán, bên kia suối về phía nam là khu tháp của tổ sư Tử Dung. Ngày nay, trong khu vực dân cư còn phân bố dày đặc các ngôi chùa, tịnh thất, tu viện, tự viện…

PV Thanh Niên với “Bia ghi sự lục tổ đình Thiền Tôn”
ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN
Từ xa, ngoài con đường giữa rừng thông xanh, đã nhìn thấy phiến đá ghi dòng chữ "Tổ đình Thiền Tôn". Con đường vào chùa được làm mới bằng bê tông dẫn đến dãy nhà tăng bên phải (từ trong nhìn ra). Ngôi chánh điện ở giữa được xây dựng bằng bê tông kiên cố theo kiến trúc chùa Huế. Trước chánh điện là khoảng sân rộng có cây bồ đề cao lớn, đài Quán Thế Âm, tháp chuông và nhà bia. Trong bi đình là tấm bia đá Thanh, tên gọi là "Bia ghi sự lục Tổ đình Thiền Tôn".
Bia do ngài Như Như đạo nhân (tác giả bộ Hàm Long sơn chí) soạn thảo năm Thành Thái thứ 13 (1901) và được cố hòa thượng Thích Thiện Siêu tục biên phần cuối vào năm Tân Tỵ (2001). Bia có 2 mặt, một khắc chữ Hán, một khắc chữ quốc ngữ. Cổng chính gồm 4 trụ lớn, mỗi trụ đều có câu đối 2 mặt (mặt trước khắc chữ Hán, mặt sau khắc chữ quốc ngữ).
Đương kim trú trì hiện nay là hòa thượng Thích Thanh Đàm, trú trì đời thứ 13. Theo hòa thượng, theo dòng lịch sử, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Lần đại trùng tu mới nhất hoàn thành vào năm 2001 do hòa thượng Thích Thiện Siêu (trú trì đời thứ 11) chủ trì, để có được cảnh quang thiền tự uy nghiêm hoành tráng như hiện nay.
Văn bia "Bia ghi sự lục tổ đình Thiền Tôn" ghi: "Gốc sâu thì nhánh tốt, nguồn xa thì dòng dài; chốn phạm vũ này tuy ba lần tụ ba lần tán mà đạo vẫn không hề tăng giảm".

Chánh điện của tổ đình Thiên Thai Thiền Tôn
ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN
Nhớ chốn xưa đất tổ
Vùng Thiên Thai sơn ngày xưa vốn là vùng thâm sơn, u tịch, chỉ có những vị cao tăng mới tìm đến để khai sơn lập chùa. Đại thi hào Nguyễn Du trong lần vãn cảnh Thiên Thai đã để lại bài thơ Vọng Thiên Thai nổi tiếng với những câu thơ u hoài:
"Thiên Thai sơn tại đế thành đông
Cách nhất điều giang tự bất thông
Cổ tự thu mai hoàng diệp lý
Tiên triều tăng lão bạch vân trung"
(Dịch nghĩa: Núi Thiên Thai nhìn về phía đông là kinh thành/Cách một dòng sông tưởng chẳng có lối đi/Chùa cổ mùa thu mai vàng rụng đầy lá/Vị sư già sống từ triều trước tóc bạc trắng như mây).
Văn bia cũng cho biết chùa được kiến lập vào năm Quý Dậu (1693), do Tổ sư Liễu Quán khai sơn. Giai thoại thiền môn xứ Huế kể rằng, sau khi lĩnh ngộ tâm ấn từ hòa thượng Tử Dung, thiền sư Liễu Quán đi vào chân núi Thiên Thai để ẩn tu, tham thiền.
Ban đầu, ngài đến tá túc trong một ngôi miếu cổ thờ Thần hoàng xóm Ngũ Tây, cách chùa Thuyền Tôn bây giờ độ vài cây số. Đêm hôm đó, các bô lão trong làng thấy vị Thần hoàng về báo mộng rằng kiếm chỗ khác để xây miếu cho ta vì miếu cũ ta đã nhường cho một vị Bồ tát đắc đạo tu hành. Hôm sau, tờ mờ sáng, các vị bô lão trong làng đến ngôi miếu Thành hoàng thì thấy đã có vị sư đang ngồi tham thiền. Từ đó, họ dựng ngôi miếu khác, nhường chỗ cho vị sư tu hành.

Toàn cảnh tổ đình Thiền Tôn trên núi Thiên Thai
ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN
Văn bia ở tháp tổ dưới chân núi ghi chép, năm Nhâm Dần (1722) tổ sư Liễu Quán về trụ ở tổ đình Thiền Tôn. Trong các năm 1733 - 1735, ngài mở 4 đại giới đàn theo lời thỉnh cầu của các hàng cư sĩ, xuất gia và các quan viên hộ pháp. Chùa Thiền Tôn trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp. Đương thời, chúa Nguyễn Phúc Chu cảm phục đạo đức và danh tiếng của ngài, triệu ngài vào cung, nhưng ngài muốn giữ sự tự tại ở chốn lâm tuyền nên đã từ tạ lời thỉnh mà không đến.
Năm Canh Thân (1740), sau khi truyền giới đàn Long Hoa, ngài trở lại tổ đình. Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742), ngài lại mở giới đàn tại chùa Viên Thông (ngôi chùa đầu tiên mà ngài tịnh tu) và trở về tổ đình Thiền Tôn cho đến ngày viên tịch (cuối năm 1742).
Văn bia chép rằng, vào cuối thu, tháng 9 âm lịch năm ấy (tức tháng 10.1742), ngài lâm bệnh nhưng không có dấu hiệu gì trầm trọng.
Tháng 11 âm lịch năm ấy, mấy ngày trước khi mất, ngài ngồi dậy tự tay viết bài kệ bốn câu:
Thất thập dư niên thế giới trung
Không không sắc sắc diệc dung thông
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý
Hà tất bôn mang vấn tổ tông?
(Ngoài bảy mươi năm trong thế giới/Không không sắc sắc thảy dung thông/Hôm nay nguyện mãn về nhà cũ/Nào cần tìm cầu hỏi tổ tông).

Phiến đá trước đường dẫn vào tổ đình Thiền Tôn
ẢNH: LÊ HOÀI NHÂN
Ngày 22.11 năm Nhâm Tuất (tháng 12.1742), ngài trút hơi thở cuối cùng. Ngài trụ thế 76 tuổi đời, 43 tuổi hạ, độ 49 đệ tử xuất gia danh tiếng và rất đông đệ tử tại gia.
Sau khi ngài viên tịch, chúa Nguyễn Phúc Chu ban thụy hiệu là Chánh Giác Viên Ngộ hòa thượng để khắc bia. Tháp ngài nằm phía nam núi Thiên Thai, trên thửa đất làng An Cựu, H.Hương Trà, nay là P.An Cựu. (còn tiếp)









Bình luận (0)