Vốn FDI tăng từ lượng đến chất

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 7 tháng đạt nhiều kỷ lục cho thấy mục tiêu thu hút về giá trị dòng vốn vẫn đang duy trì tốt. Cùng với Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, đây là thời điểm quan trọng để nâng chất dòng vốn này, qua đó giúp kiến tạo và phát triển năng lực quốc gia.

Quy mô vốn đăng ký mới tăng gấp đôi

Trong 7 tháng tính từ đầu năm 2026, điểm đáng chú ý trong bức tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài không chỉ hơn 38 tỉ USD với mức tăng gần 58% so cùng kỳ năm ngoái mà các dữ liệu cho thấy có sự chuyển dịch rõ nét về chất lượng dòng vốn. Nếu những năm trước, tăng trưởng FDI chủ yếu đến từ việc gia tăng số lượng dự án, thì năm nay động lực chính lại đến từ các dự án có quy mô vốn lớn và hàm lượng công nghệ cao.

Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, số dự án FDI đăng ký mới chỉ tăng 7,8%, trong khi tổng vốn đăng ký mới đạt trên 21 tỉ USD, tăng tới 109,7% (tương đương tăng 2,1%) so cùng kỳ. Theo Bộ Tài chính, việc vốn đăng ký mới tăng mạnh là động lực chính kéo tổng vốn đăng ký tăng cao. Đặc biệt quy mô vốn bình quân của mỗi dự án đã tăng mạnh hơn gấp đôi, phản ánh xu hướng các tập đoàn đa quốc gia đẩy mạnh đầu tư những dự án chiến lược, thay vì các dự án quy mô nhỏ như trước.

Vốn FDI tăng từ lượng đến chất- Ảnh 1.

Thu hút vốn FDI của VN đang chuyển dịch sang các ngành có giá trị gia tăng cao như bán dẫn, điện tử, công nghệ thông tin, KH-CN... Trong ảnh: Sản xuất của một doanh nghiệp có vốn Nhật Bản ở KCN tại tỉnh Ninh Bình

Ảnh: Gia Hân

Sự chuyển dịch này cũng thể hiện rõ trong cơ cấu đầu tư. Bên cạnh lĩnh vực chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với 18,68 tỉ USD vốn đăng ký, nhiều dự án mới tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng cao như bán dẫn, điện tử, công nghệ thông tin, khoa học - công nghệ và hạ tầng năng lượng. Điển hình là dự án nhà máy bán dẫn trị giá 1 tỉ USD của LG Innotek tại Hải Phòng - cơ sở sản xuất bán dẫn đầu tiên của tập đoàn này được xây dựng ngoài Hàn Quốc. Đây được xem là tín hiệu cho thấy VN đang dần trở thành điểm đến của các dự án công nghệ cao trong chiến lược tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, chất lượng dòng vốn FDI cũng được phản ánh qua khả năng hiện thực hóa các cam kết đầu tư. Trong 7 tháng, vốn FDI thực hiện đạt hơn 15,2 tỉ USD, tăng 11,76% và là mức cao nhất của 7 tháng trong vòng 5 năm qua. Các chuyên gia kinh tế đánh giá việc giải ngân đầu tư FDI tăng liên tục khẳng định một thực tế rằng những dự án đầu tư vào VN không chỉ là những con số trên giấy mà đang được triển khai với tốc độ nhanh hơn, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh cũng như triển vọng dài hạn của VN.

Vốn FDI tăng từ lượng đến chất- Ảnh 2.

Ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối ngân hàng toàn cầu HSBC Việt Nam, khẳng định VN đã trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn hàng đầu thế giới trong thu hút vốn FDI nhờ chi phí lao động cạnh tranh, nền chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng mở và môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng 3/4 giá trị xuất khẩu của VN. Dù vậy, ông cho rằng mô hình thu hút FDI để thúc đẩy xuất khẩu cho VN cũng có giới hạn, giai đoạn phát triển tiếp theo không chỉ đòi hỏi thu hút thêm vốn, mà còn phải tạo ra và giữ lại giá trị lớn hơn từ dòng vốn này.

"Khi doanh nghiệp (DN) tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, họ tìm kiếm những điểm đến đầu tư có khả năng chống chịu, có tính dự báo và được dẫn dắt bởi đổi mới. Thể chế vững mạnh đã trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh giá trị nhất mà một quốc gia có thể mang lại", ông Richard Barnsley nhấn mạnh. Thế nên, mục tiêu của VN trong giai đoạn mới không còn chỉ là thu hút vốn, mà là thu hút năng lực như công nghệ, nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, cũng như khả năng đưa DN trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Đột phá về chất từ Nghị quyết 10

Góc nhìn của đại diện HSBC hoàn toàn phù hợp với định hướng mới trong Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị. Nghị quyết 10 đặt mục tiêu giai đoạn 2025 - 2030 thu hút 200 - 300 tỉ USD FDI đăng ký mới, giải ngân 150 - 200 tỉ USD. Đặc biệt, có khoảng 3/4 dòng vốn đến từ các nền kinh tế phát triển. Ngoài ra, VN cũng đặt mục tiêu đưa 10.000 DN trong nước tham gia chuỗi cung ứng của các DN FDI và thu hút tối thiểu ba tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở khu vực hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển tại VN.

Vốn FDI tăng từ lượng đến chất- Ảnh 3.

Một góc Khu công nghiệp VSIP tại Bình Dương (TP.HCM)

ảnh: Đỗ Trường

Ông Trần Anh Tùng, Trưởng ngành quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị kinh doanh, Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM, nhận xét: Liên tiếp những thành quả từ khu vực FDI thời gian qua được hình thành đặc thù từ ba nhóm yếu tố. Thứ nhất là ổn định vĩ mô, môi trường chính trị và khả năng duy trì chuỗi sản xuất trong bối cảnh thế giới phân mảnh. Nhà đầu tư hiện không còn chỉ tìm nơi rẻ nhất mà tìm nơi đủ an toàn và có thể kết nối đồng thời với Trung Quốc, ASEAN, Mỹ và châu Âu. Bên cạnh đó, VN hiện có mạng lưới FTA rộng, đặc biệt như CPTPP, EVFTA và RCEP, giúp một nhà máy đặt tại nước ta có thể tiếp cận nhiều thị trường lớn với ưu đãi thuế quan. Yếu tố tiếp theo là hoạt động ngoại giao kinh tế và mời gọi đầu tư ở cấp Chính phủ ngày càng chuyển sang tiếp cận trực tiếp các tập đoàn chiến lược, đồng thời các địa phương chủ động chuẩn bị đất công nghiệp, hạ tầng và cơ chế xử lý thủ tục.

Vốn FDI tăng từ lượng đến chất- Ảnh 4.

Trong bối cảnh đó, theo ông Tùng, Nghị quyết 10 ra đời rất đúng thời điểm và thể hiện sự trưởng thành trong tư duy phát triển. VN đang chuyển từ câu hỏi "thu hút được bao nhiêu vốn" sang những câu hỏi khó hơn: Dòng vốn đó tạo ra công nghệ gì? DN Việt tham gia được đến đâu? Và nền kinh tế giữ lại bao nhiêu giá trị? Nghị quyết không chỉ nói về thu hút dự án, mà hướng tới kiến tạo hệ sinh thái gồm nhà đầu tư chiến lược, đại học, viện nghiên cứu, hạ tầng dữ liệu, năng lượng và nhà cung cấp nội địa. Nếu thực hiện đúng, "trái ngọt" lớn nhất không chỉ là thêm vài chục tỉ USD FDI mỗi năm. VN có thể hình thành các cụm công nghiệp công nghệ có năng suất cao, tạo việc làm thu nhập tốt, tăng nguồn thu ngân sách và giảm dần tỷ trọng gia công. Quan trọng hơn, DN trong nước có cơ hội trở thành nhà cung ứng linh kiện, phần mềm và dịch vụ kỹ thuật, thay vì chỉ cung cấp bao bì, vận tải hoặc lao động.

Phân tích cụ thể, chuyên gia này chỉ rõ: Điểm đột phá lớn nhất của Nghị quyết 10 là thay đổi hoàn toàn tư duy thu hút FDI. Nghị quyết 10 chuyển sang đánh giá bằng mức độ lan tỏa của dòng vốn đối với nền kinh tế thể hiện qua việc chuyển trọng tâm sang FDI thế hệ mới, ưu tiên bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu, công nghệ sinh học, năng lượng xanh và nghiên cứu - phát triển (R&D) thay vì các ngành thâm dụng lao động. Song song là đặt mục tiêu rất cụ thể về liên kết DN nội địa. Nghị quyết hướng tới tỷ lệ nội địa hóa bình quân 45 - 50% trong các ngành công nghiệp chủ lực và khoảng 10.000 DN VN tham gia chuỗi cung ứng của DN FDI.

"Đây là thay đổi rất quan trọng, bởi hiện nay ở nhiều ngành điện tử, tỷ lệ nội địa hóa mới chỉ quanh 20 - 30%, đồng nghĩa phần lớn giá trị vẫn nằm ở khâu linh kiện và công nghệ nhập khẩu. Một điểm đáng chú ý nữa là chuyển từ ưu đãi theo quy mô vốn sang ưu đãi theo chất lượng đóng góp. DN mang theo công nghệ, trung tâm R&D, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung cấp trong nước sẽ được ưu tiên hơn DN chỉ mở rộng năng lực sản xuất. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế toàn cầu, bởi trong giai đoạn cạnh tranh mới, quốc gia chiến thắng không phải là nơi thu hút nhiều vốn FDI nhất mà là nơi giữ lại được nhiều giá trị gia tăng nhất từ mỗi USD FDI", ông Trần Anh Tùng nhìn nhận.

Đưa kinh tế VN lên một tầm cao mới

TS Nguyễn Quốc Việt, Trưởng nhóm nghiên cứu vĩ mô, Trường ĐH Kinh tế (ĐH Quốc gia Hà Nội), nhấn mạnh việc chất lượng dòng vốn FDI được cải thiện là tín hiệu cho thấy VN đang tham gia ngày càng sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này không chỉ giúp gia tăng giá trị xuất khẩu mà còn tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. TS Việt phân tích, chất lượng dòng vốn FDI hiện nay được phản ánh qua 3 khía cạnh. Thứ nhất, không chỉ vốn đăng ký tăng mạnh mà vốn thực hiện cũng liên tục tăng và đạt tốc độ cao, qua đó thu hẹp khoảng cách giữa vốn cam kết và vốn giải ngân. Đây là chỉ tiêu quan trọng bởi nó phản ánh mức độ hiện thực hóa các dự án và niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư của VN.

DN mang theo công nghệ, trung tâm R&D, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung cấp trong nước sẽ được ưu tiên hơn DN chỉ mở rộng năng lực sản xuất. Đây là hướng đi phù hợp với xu thế toàn cầu, bởi trong giai đoạn cạnh tranh mới, quốc gia chiến thắng không phải là nơi thu hút nhiều vốn FDI nhất mà là nơi giữ lại được nhiều giá trị gia tăng nhất từ mỗi USD FDI.

Ông Trần Anh Tùng, Trưởng ngành quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị kinh doanh, Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM

Thứ hai, dòng vốn tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo - khu vực tạo ra giá trị gia tăng cao và đóng góp lớn cho xuất khẩu. Lĩnh vực này thu hút 18,68 tỉ USD vốn đăng ký, chiếm gần một nửa tổng vốn FDI và cũng chiếm tới 82,6% tổng vốn FDI thực hiện trong 7 tháng qua. Điều này cho thấy nguồn vốn đang đi vào sản xuất thực, giúp VN gia tăng giá trị xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thứ ba, các dự án FDI mới ngày càng có yêu cầu cao hơn về công nghệ, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm xã hội. Ông Việt lưu ý, đây là yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng, thay vì chỉ bổ sung nguồn vốn đơn thuần. "Tăng chất lượng dòng vốn chắc chắn sẽ hỗ trợ nền kinh tế phát triển ở một tầm cao hơn. Vì vậy, trong giai đoạn tới, VN không nên chỉ đánh giá hiệu quả thu hút FDI bằng tổng vốn đăng ký, số lượng dự án hay số việc làm tạo ra, mà cần nhìn vào khả năng triển khai thực tế của các dự án. Đặc biệt, việc vốn FDI giải ngân liên tục lập kỷ lục cao nhất trong 5 năm qua cho thấy giá trị gia tăng từ dòng vốn này đang ngày càng được giữ lại nhiều hơn cho nền kinh tế", TS Nguyễn Quốc Việt nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, ông Trần Anh Tùng cho rằng nếu giai đoạn 2005 - 2025, FDI đã giúp VN trở thành một trong những trung tâm sản xuất và xuất khẩu lớn của thế giới thì giai đoạn 2026 - 2045 sẽ là cuộc cạnh tranh về công nghệ, đổi mới sáng tạo và vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khi lợi thế lao động giá rẻ dần thu hẹp, các yếu tố như công nghệ, dữ liệu và năng lực R&D sẽ quyết định sức cạnh tranh của mỗi quốc gia. Thực tế, VN đang đứng trước cơ hội hiếm có khi nhiều tập đoàn công nghệ lớn như Samsung, Intel, Amkor, NVIDIA, Google cùng các nhà đầu tư trung tâm dữ liệu có xu hướng mở rộng hiện diện tại Đông Nam Á. Nếu tận dụng tốt làn sóng này, VN không chỉ là nơi lắp ráp sản phẩm cuối cùng mà còn có thể tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế, kiểm định chip, AI, điện toán đám mây và R&D.

Quan trọng hơn, FDI chất lượng cao còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi của từng dự án. Một nhà máy bán dẫn hay trung tâm dữ liệu AI quy mô hàng tỉ USD không chỉ đóng góp trực tiếp vào GDP mà còn kéo theo sự phát triển của hạ tầng năng lượng, logistics, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ tài chính, an ninh mạng và hệ thống nghiên cứu, đào tạo. Khi DN VN tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái này, tỷ lệ nội địa hóa sẽ được cải thiện, giúp giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn trong nước. "Khi đó, FDI sẽ không chỉ là nguồn bổ sung vốn mà trở thành động lực nâng cấp năng lực công nghệ quốc gia, đưa VN chuyển từ "Made in Vietnam" sang "Created in Vietnam", đủ sức cạnh tranh trong kỷ nguyên AI và kinh tế số", ông Trần Anh Tùng kỳ vọng.

Nghị quyết 10 dịch chuyển tư duy thu hút vốn FDI

VN đang ở giai đoạn bản lề trong thu hút FDI. Khi các quốc gia cùng cạnh tranh để đón dòng vốn chất lượng cao, những ưu đãi về thuế hay chi phí lao động thấp không còn là lợi thế quyết định. Thay vào đó, các tập đoàn quốc tế ngày càng coi trọng chất lượng thể chế, tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách, chất lượng nguồn nhân lực cũng như tốc độ cải cách. Năng suất, đổi mới sáng tạo và mức độ tự động hóa đang trở thành những yếu tố quan trọng hơn chi phí lao động.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị được đánh giá là dấu mốc cho sự chuyển dịch tư duy thu hút FDI, từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế. Sự chuyển dịch này càng có ý nghĩa khi thế giới đang đối mặt với nhiều bất định về địa chính trị, chuỗi cung ứng toàn cầu được tái cấu trúc và làn sóng AI phát triển mạnh mẽ. Khi DN quốc tế lựa chọn điểm đến đầu tư, những nền kinh tế có thể chế minh bạch, chính sách ổn định, khả năng chống chịu cao và được dẫn dắt bởi đổi mới sáng tạo sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn trong việc thu hút dòng vốn chất lượng cao.

Ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối ngân hàng toàn cầu HSBC Việt Nam

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.