Xây dựng sách giáo khoa mới: Tri thức ngữ văn nên dễ hiểu, bớt hàn lâm

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã chuyển hướng dạy học ngữ văn từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực. Tuy nhiên, nên tiếp tục rà soát theo hướng giảm tính hàn lâm, hài hòa giữa văn bản kinh điển và hiện đại, hạn chế lối viết theo khuôn mẫu, đồng thời nâng cao hiệu quả dạy nói và nghe.

Tránh biến giờ đọc văn thành học thuộc thuật ngữ

Một trong những điểm mới của chương trình ngữ văn hiện hành là đưa tri thức ngữ văn vào sách giáo khoa nhằm giúp học sinh có công cụ đọc hiểu văn bản. Đây là định hướng cần thiết. Tuy nhiên, nhiều khái niệm trong phần tri thức có thể trở nên hàn lâm nếu chỉ giới thiệu chủ yếu bằng định nghĩa và thuật ngữ. Qua quá trình dạy, giáo viên nhận thấy nhiều tri thức ngữ văn hiện nay quá nặng nề, gây khó cho người học, rất mất thời gian để tìm hiểu.

Điều chỉnh sách giáo khoa: Tri thức ngữ văn nên dễ hiểu, bớt hàn lâm  - Ảnh 1.

Tri thức ngữ văn cần đóng vai trò công cụ hỗ trợ cảm thụ, phân tích và khám phá tác phẩm, chứ không trở thành một hệ thống kiến thức độc lập mà học sinh phải ghi nhớ để làm bài kiểm tra

ảnh: Đào Ngọc Thạch

Với học sinh phổ thông, điều quan trọng không phải là ghi nhớ thật chính xác một hệ thống khái niệm, mà là hiểu khái niệm ấy giúp mình đọc tác phẩm như thế nào. Chẳng hạn, thay vì bắt đầu bằng định nghĩa về "biểu tượng" (sách Ngữ văn 12, phần dạy về thơ), sách giáo khoa có thể hướng dẫn học sinh bằng hình ảnh dòng sông, cánh chim hay mùa thu trong một số tác phẩm cụ thể, từ đó nhận ra sự khác biệt giữa hình ảnh thông thường và hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng.

Vì vậy, nên chăng sách giáo khoa trình bày tri thức ngữ văn theo hướng từ ví dụ đến khái niệm, từ dễ đến khó, từ nhận biết đến vận dụng. Những kiến thức nền tảng cần được giải thích ngắn gọn, rõ ràng; kiến thức mở rộng có thể dành cho hoạt động khám phá, đọc thêm hoặc học tập chuyên sâu. Cách tổ chức này vừa bảo đảm yêu cầu học thuật, vừa tránh biến giờ đọc văn thành giờ học thuộc thuật ngữ.

Tri thức ngữ văn cần đóng vai trò công cụ hỗ trợ cảm thụ, phân tích và khám phá tác phẩm, chứ không trở thành một hệ thống kiến thức độc lập mà học sinh phải ghi nhớ để làm bài kiểm tra.

Ngữ liệu nên hài hòa giữa kinh điển và hiện đại, thêm kiến thức văn học sử

Lựa chọn văn bản là vấn đề quan trọng bởi sách giáo khoa không chỉ cung cấp kiến thức mà còn góp phần hình thành thị hiếu thẩm mỹ, năng lực ngôn ngữ và vốn văn hóa cho học sinh. 

Văn học kinh điển Việt Nam và thế giới cần tiếp tục giữ vị trí xứng đáng. Sách giáo khoa cần những tác phẩm có giá trị bền vững giúp học sinh hiểu truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc, những vấn đề muôn thuở của con người và sự phát triển của ngôn ngữ nghệ thuật. Tuy nhiên, học sinh cũng cần được tiếp xúc với văn học hiện đại, đương đại, những văn bản gần gũi với đời sống và có khả năng khơi gợi suy nghĩ về các vấn đề của thời đại.

Trước đây có nhiều bộ sách, tình hình văn bản khá đa dạng, giáo viên và học sinh có thể lựa chọn văn bản từ các bộ sách khác nhau để dạy và học, đọc thêm, tham khảo. Khi chỉ còn một bộ sách, việc điều chỉnh lựa chọn văn bản là vô cùng cần thiết.

Do đó, nên xây dựng một cơ cấu ngữ liệu bảo đảm sự cân đối giữa tác phẩm kinh điển, hiện đại và những văn bản có giá trị khám phá đời sống hôm nay. Việc lựa chọn không nên chỉ dựa vào tên tuổi tác giả, tính quen thuộc của tác phẩm hay khả năng đưa vào đề kiểm tra, mà cần tính đến giá trị tư tưởng, nghệ thuật, tính đại diện, sự phù hợp với lứa tuổi và khả năng phát triển năng lực đọc.

Điều chỉnh sách giáo khoa: Tri thức ngữ văn nên dễ hiểu, bớt hàn lâm  - Ảnh 2.

Một giờ học môn ngữ văn của học sinh THCS tại TP.HCM

ảnh: Đào Ngọc Thạch

Sắp xếp văn bản thế nào để học sinh dễ tiếp cận? 

Một vấn đề khác là cách sắp xếp văn bản. Hiện nay hầu hết các bài học được xây dựng dựa trên hệ thống thể loại (thơ, truyện, kịch, nghị luận...). Tổ chức theo cách này, học sinh có thể dễ dàng nắm được kỹ năng đọc thể loại nhưng chưa hình dung rõ tiến trình văn học. Ngược lại, nếu sắp xếp hoàn toàn theo lịch sử, việc dạy học có nguy cơ nặng về niên đại, tác giả và hoàn cảnh sáng tác (phần này chương trình cũ 2006 đã xây dựng). 

Vậy nên chăng kết hợp cả hai cách tiếp cận: cung cấp cho học sinh một trục khái quát về tiến trình văn học Việt Nam, đồng thời tổ chức đọc theo thể loại, đặc trưng nghệ thuật và chủ đề. Qua đó, học sinh vừa nhận ra sự vận động của văn học qua các thời kỳ, vừa hiểu những cách tân về nội dung và hình thức của từng tác phẩm.

Thực tế là, học sinh THPT nào có học chuyên đề môn văn thì dễ dàng hệ thống kiến thức (như văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại; các giai đoạn văn học sử) hơn do với các bạn không tham gia. Để bổ khuyết, có thể đưa các văn bản đọc thêm (phần mở rộng kỹ năng đọc, hoặc cuối sách giáo khoa) mang tính khái quát tính trình lịch sử văn học (so sánh với văn học nước ngoài) để học sinh mở rộng kiến thức.


Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.