Cholesterol cao có nguy hiểm không?

Phạm Mạnh Hùng
GS-TS (Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam)
Cholesterol cao hầu như không gây triệu chứng trong nhiều năm, nhưng tổn thương xơ vữa động mạch vẫn âm thầm hình thành.

Trong nhiều năm làm công việc của bác sĩ chuyên ngành tim mạch, một câu tôi thường nghe từ những người có Cholesterol cao là: "Tôi vẫn khỏe, không đau ngực, không khó thở, tại sao phải lo?".

Âm thầm tổn thương xơ vữa động mạch

Cholesterol cao có nguy hiểm không? Câu trả lời là có, nhưng cần hiểu cholesterol nào cao và người đó có nguy cơ tim mạch như thế nào.

Cholesterol là chất cần thiết cho cơ thể. Điều chúng ta quan tâm nhất về mặt xơ vữa là các lipoprotein chứa apoB, đặc biệt LDL. LDL-C thường được gọi đơn giản là cholesterol "xấu". Khi LDL lưu hành trong máu với nồng độ cao, các hạt LDL có thể đi vào và bị giữ lại trong thành động mạch, khởi phát một chuỗi phản ứng lipid, viêm và miễn dịch, cuối cùng hình thành mảng xơ vữa.

Mảng xơ vữa có thể lớn dần trong hàng chục năm mà người bệnh không hề biết. Đến một thời điểm nào đó, nó có thể gây hẹp đáng kể lòng mạch hoặc nguy hiểm hơn, mảng xơ vữa bị nứt vỡ, hình thành huyết khối cấp tính. Nếu xảy ra ở động mạch vành, hậu quả có thể là nhồi máu cơ tim; ở động mạch não có thể dẫn đến đột quỵ thiếu máu não.

Cholesterol cao có nguy hiểm không? - Ảnh 1.

Xét nghiệm lipid máu giúp phát hiện sớm yếu tố nguy cơ

Ảnh: Phương An tạo bởi Gemini

Một điều rất quan trọng là không có một mức LDL-C "lý tưởng" giống nhau cho tất cả mọi người. Người đã từng nhồi máu cơ tim, đặt stent, đột quỵ do xơ vữa hoặc có nguy cơ tim mạch rất cao cần LDL-C thấp hơn nhiều so với một người trẻ chưa có các yếu tố nguy cơ khác.

Theo Liên đoàn Tim mạch thế giới (World Heart Federation), kiểm soát cholesterol là một trong những chiến lược quan trọng để giảm gánh nặng bệnh tim mạch do xơ vữa, trên toàn cầu.

LDL-C là "yếu tố nguy cơ" hay thực sự là nguyên nhân ?

LDL-C không là nguyên nhân duy nhất của mọi nhồi máu cơ tim hay đột quỵ. Hút thuốc, tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, bệnh thận, yếu tố di truyền, tuổi và nhiều yếu tố khác cùng góp phần quyết định nguy cơ. Nhưng với bệnh tim mạch do xơ vữa, LDL là một trong những tác nhân trung tâm. Do đó, "động mạch của bạn đã phải tiếp xúc với LDL-C ở mức đó trong bao lâu" là vấn đề được đặc biệt quan tâm.

Một nghiên cứu trên 18.288 người được công bố trên chuyên san JAMA Cardiology cho thấy mức phơi nhiễm LDL-C tích lũy từ tuổi trưởng thành đến trung niên liên quan với nguy cơ bệnh mạch vành về sau. Do đó, "LDL càng thấp trong thời gian càng dài càng có lợi" có ý nghĩa trong phòng ngừa tim mạch.

Các khuyến cáo mới nhất đang chuyển mạnh từ tư duy "đợi nguy cơ cao mới điều trị" sang phát hiện sớm, giảm thời gian động mạch phải tiếp xúc với LDL-C và phòng bệnh trong suốt cuộc đời. Khuyến cáo về rối loạn lipid máu năm 2026 đặc biệt nhấn mạnh can thiệp sớm từ tuổi trẻ và đánh giá nguy cơ tim mạch 30 năm, thay vì chỉ nhìn vào nguy cơ 10 năm.

Đừng đợi đến tuổi 50 mới quan tâm cholesterol

Người trẻ có LDL-C cao không có nghĩa tất cả đều phải uống thuốc. Trước hết, cần đánh giá chế độ ăn, vận động, cân nặng, hút thuốc, huyết áp, đường huyết, tiền sử gia đình và các nguyên nhân thứ phát. Một số trường hợp có thể cần đánh giá thêm Lp(a), apoB hoặc những chỉ dấu nguy cơ khác.

Điều quan trọng nhất là thay đổi quan niệm: Chúng ta không điều trị một con số cholesterol; chúng ta kiểm soát cholesterol để bảo vệ động mạch trong hàng chục năm phía trước.

Với cholesterol, phòng bệnh càng sớm thì lợi ích tích lũy càng lớn. Đừng chờ đến khi đau ngực, nhồi máu cơ tim hay đột quỵ mới hỏi LDL-C của mình là bao nhiêu. Khi ấy, chúng ta đã chuyển từ phòng ngừa biến cố đầu tiên sang cố gắng ngăn chặn biến cố tiếp theo.

Thông điệp gửi tới những người trẻ: Xơ vữa động mạch không đợi đến tuổi già mới bắt đầu. Ở tuổi 30 - 40, chúng ta thường quan tâm đến cân nặng, hình thể hay đường huyết nhưng ít người biết LDL-C của mình là bao nhiêu. Trong khi đó, một xét nghiệm lipid máu rất đơn giản có thể giúp phát hiện sớm một yếu tố nguy cơ quan trọng. Nên đo chỉ số Lp(a) ít nhất một lần trong đời ở người trưởng thành để nhận diện thêm nguy cơ di truyền.

Mỡ máu là thành phần cần thiết của cơ thể, gồm cholesterol và triglycerid. Cholesterol tham gia cấu tạo tế bào, sản xuất một số hormone, còn triglycerid là nguồn dự trữ năng lượng. Vì không tan trong nước, các chất béo phải kết hợp với protein thành những hạt lipoprotein, giống như các "xe vận chuyển" trong máu. Các hạt này được phân nhóm theo tỷ trọng, như VLDL, LDL và HDL. Trong thực hành, xét nghiệm mỡ máu thường gồm cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL-C và HDL-C; tùy trường hợp, bác sĩ có thể đánh giá thêm non-HDL-C, apoB và Lp(a). LDL-C là lượng cholesterol trong hạt LDL, thường gọi là cholesterol "xấu" vì dư thừa sẽ góp phần gây xơ vữa động mạch. ApoB là protein có trên các hạt gây xơ vữa, còn Lp(a) là một hạt giống LDL nhưng gắn thêm protein apo(a).

Lp(a) cao làm tăng nguy cơ tim mạch, chủ yếu do di truyền và tương đối ổn định, nên thường chỉ cần đo một lần để nhận diện thêm nguy cơ. Hiện lợi ích giảm biến cố tim mạch của việc hạ riêng Lp(a) bằng thuốc đặc hiệu vẫn chưa được xác lập chắc chắn. Vì vậy, phát hiện Lp(a) cao giúp chúng ta chủ động kiểm soát tích cực hơn LDL-C, huyết áp, đường huyết và hút thuốc. Ngược lại, LDL-C và triglycerid có thể thay đổi theo ăn uống, vận động, bệnh lý và thuốc, nên cần theo dõi định kỳ theo chỉ định.

Cholesterol cao có nguy hiểm không? - Ảnh 1.

Bệnh tim mạch tiếp tục là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu

Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization - WHO), năm 2022 có khoảng 19,8 triệu người tử vong do bệnh tim mạch, tương đương khoảng 32% tổng số ca tử vong toàn cầu; khoảng 85% số tử vong tim mạch là do nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Hơn 3 phần 4 số ca tử vong do bệnh tim mạch xảy ra tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.

Hồ sơ tăng huyết áp tại VN năm 2025 của WHO ước tính có khoảng 16,9 triệu người từ 30 - 79 tuổi mắc tăng huyết áp; khoảng 51% đã được chẩn đoán, 32% được điều trị và chỉ khoảng 15% được kiểm soát.

Tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, hút thuốc lá, thừa cân, béo phì, ít vận động, chế độ ăn không hợp lý và già hóa dân số đang làm gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch.

Theo GS-TS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học VN, phòng chống bệnh tim mạch phải bắt đầu từ cộng đồng: kiểm soát yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm, điều trị đúng, theo dõi lâu dài và bảo đảm người bệnh được tiếp cận chăm sóc liên tục.

Về điều trị, GS Hùng cho biết: Trong hơn 3 thập niên qua, chuyên ngành tim mạch VN từ tiếp nhận tri thức hiện đã chia sẻ và cùng đóng góp vào sự phát triển của ngành tim mạch học khu vực và thế giới, làm chủ ngày càng nhiều phương pháp hiện đại trong chẩn đoán và điều trị. Tim mạch can thiệp đã phát triển từ can thiệp động mạch vành thường quy đến những tổn thương phức tạp; điện sinh lý và điều trị rối loạn nhịp tiến tới các kỹ thuật triệt đốt và tạo nhịp hiện đại; can thiệp bệnh tim cấu trúc phát triển với thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVI), các kỹ thuật can thiệp tim bẩm sinh và nhiều thủ thuật ít xâm lấn… Song song là những tiến bộ nhanh trong hình ảnh học tim mạch, suy tim, tăng huyết áp, dự phòng, hồi sức và phẫu thuật tim mạch. Các bác sĩ và nhà khoa học VN ngày càng tham gia sâu hơn vào nghiên cứu, đào tạo, xây dựng khuyến cáo và các diễn đàn chuyên môn quốc tế.

Liên Châu

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.