Hồi sinh nghề cha truyền
Tiếng máy cắt đá vang lên giữa một xưởng nhỏ ở xã Thoại Sơn, những khối đá thô ráp qua bàn tay người thợ dần thành hình, được khoét lòng, mài nhẵn. Xen giữa tiếng máy là âm thanh khô, chắc của búa và đục - những thanh âm từng rất quen thuộc ở vùng núi Sập, nơi nghề làm cối đá một thời phát triển.

Anh Sĩ giới thiệu những chiếc cối đá được làm ra tại cơ sở của mình
ẢNH: DUY TÂN
Anh Nguyễn Ngọc Sĩ (42 tuổi) là một trong số ít người còn gắn bó với nghề truyền thống này. Sinh ra trong gia đình có nghề đục đá, anh được cha truyền nghề từ nhỏ.
Khoảng 40 năm trước, khu vực núi Sập có khá nhiều người làm cối đá. Những khối đá sau khi đục đẽo, mài nhẵn trở thành vật dụng quen thuộc trong các gia đình nông thôn. Nhưng từ cuối những năm 1990, nghề bắt đầu khó khăn khi nguồn nguyên liệu khan hiếm, thị trường thu hẹp.

Những khối đá được anh Sĩ mua về để tạo hình cối đá
ẢNH: DUY TÂN
Đến năm 2001, hoạt động khai thác đá tại núi Sập dừng để bảo vệ khu vực núi, khiến việc tìm nguyên liệu càng khó. "Lúc đó, nhiều người bỏ nghề, chuyển sang làm việc khác. Nghề làm cối đá ở đây cứ thế ít dần", anh Sĩ nhớ lại.
Năm 1996, khi nghề không còn thuận lợi, anh rời quê đến thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ (nay thuộc TP.HCM) làm nhiều công việc để mưu sinh. Sau nhiều năm bươn chải, năm 2016, anh trở về quê. Đúng thời điểm này, anh được một người bạn cho biết cối đá truyền thống bắt đầu có khách tìm mua trở lại.

Dùng máy cắt tạo hình cối đá
ẢNH: DUY TÂN
Nhận thấy cơ hội nối lại nghề của gia đình, anh quyết định bắt tay làm lại từ đầu. "Có lúc tôi nghĩ nghề này chắc không còn sống được bao lâu. Nhưng khi thấy vẫn có người tìm mua cối đá, tôi nghĩ nếu mình không làm thì nghề của cha để lại sẽ mất", anh Sĩ chia sẻ.

Dùng máy cắt tạo hình cối đá
ẢNH: DUY TÂN
Từ khối đá thô đến chiếc cối đá láng mịn
Theo anh Sĩ, để làm được một chiếc cối đá, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn, từ chọn đá, cắt phôi, đục, khoan, tạo hình, khoét lòng đến mài và hoàn thiện. Đá phải đủ độ cứng, không bị nứt, có vân đẹp và khi mài cho bề mặt sáng, mịn. Do núi Sập không còn khai thác đá như trước, ông tìm mua đá chất lượng từ khu vực Hòn Sóc, tỉnh Kiên Giang cũ (nay thuộc An Giang), rồi vận chuyển về xưởng.

Định hình lòng cối trước khi đục
ẢNH: DUY TÂN
Khó nhất là công đoạn làm láng lòng và bề mặt cối. Chỉ cần thao tác không đều, bề mặt có thể bị sần, ảnh hưởng đến độ bền và sự thuận tiện khi sử dụng.
"Người làm chưa quen tay thì bề mặt dễ bị sần, không đều. Cối có đẹp hay không, dùng có thuận tiện và bền hay không phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn này", anh Sĩ nói.

Đục tạo hình cối đá
ẢNH: DUY TÂN
Trước đây, mọi công đoạn đều làm thủ công. Một người thợ giỏi chỉ hoàn thành từ 1 - 2 chiếc cối mỗi ngày. Khoảng 2 năm trước, anh Sĩ đầu tư hơn 60 triệu đồng mua 12 máy cắt, mài, khoan... để hỗ trợ sản xuất.
Nhờ máy móc, cơ sở của anh hiện có thể làm từ 8 - 9 chiếc cối mỗi ngày, tùy kích thước và yêu cầu của khách hàng. Sản phẩm được bán cho các vựa tạp hóa ở khu vực núi Sập và đưa đi Đồng Tháp, Cần Thơ cùng một số tỉnh lân cận.

Đục tạo hình lòng cối
ẢNH: DUY TÂN
Tuy nhiên, máy móc chỉ giúp giảm sức lao động và rút ngắn thời gian sản xuất. Những công đoạn đòi hỏi sự tinh tế vẫn phụ thuộc vào kinh nghiệm của người thợ. Chị Nguyễn Thị Diệu, vợ anh Sĩ, cũng tham gia công việc tại cơ sở. Theo chị, lựa đá là khâu rất quan trọng, quyết định chất lượng sản phẩm.

Kiểm tra độ cân bằng, độ nhẵn, độ sâu và bề mặt lòng cối
ẢNH: DUY TÂN
"Đá có gân hô màu trắng hoặc xanh thì khi mài lên thường cho màu sáng, bóng và nhìn đẹp hơn. Cối nhỏ lại càng phải làm kỹ vì diện tích nhỏ, các chi tiết phải chính xác nên không phải lúc nào làm cối nhỏ cũng dễ hơn cối lớn", chị Diệu cho biết.
Từ những khối đá nặng hàng chục, thậm chí hàng trăm ký, người thợ phải tính toán kích thước, độ sâu và độ cân bằng trước khi tạo hình. Chỉ một chỗ lõm không đều, một cạnh chưa đủ mịn hoặc thân cối mất cân bằng cũng có thể ảnh hưởng đến sản phẩm.

Cối đá Núi Sập có hình dáng đẹp, bền, được nhiều người ưa chuộng
ẢNH: DUY TÂN
Nghề làm cối đá cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong quá trình cắt, mài đá, lưỡi cắt có thể vỡ, mũi đục gãy, mảnh đá văng vào người. Anh Sĩ từng bị mảnh lưỡi máy cắt văng trúng người, phải khâu nhiều mũi.
"Ngày trước làm thủ công, tay chân thường bị miếng đá ghim vào. Bây giờ có máy móc hỗ trợ thì đỡ cực hơn nhưng vẫn phải rất cẩn thận. Làm nghề này mà thiếu kiên nhẫn thì khó theo lâu dài", chị Diệu chia sẻ.

Chiếc cối đá năm 2025, một tác phẩm thủ công độc bản, không chiếc nào giống chiếc nào
ẢNH: DUY TÂN
Những chiếc cối đá mang theo ký ức
Cối đá được làm với nhiều kích thước. Loại phổ biến có đường kính khoảng 16 - 22 cm, giá một bộ gồm cối và chày từ vài trăm ngàn đồng, tùy kích cỡ, độ hoàn thiện và yêu cầu của khách. Với chiếc cối lớn, giá trị sản phẩm cao hơn. Một bộ cối đường kính khoảng 60 cm, nặng chừng 300 kg, có giá khoảng 6 triệu đồng, chưa tính phí vận chuyển.

Chiếc cối có chữ “An Giang”
ẢNH: DUY TÂN
Anh Sĩ cho biết chiếc cối lớn nhất anh từng thực hiện có đường kính khoảng 1 m, nặng 600 - 700 kg, giá gần 10 triệu đồng/bộ. Ngoài phục vụ nhu cầu sử dụng, những chiếc cối lớn còn được khách đặt để trang trí. Có người đặt một cặp cối, một cái hình tròn, một cái hình vuông để chưng trong nhà, đặt hai bên cầu thang. Bởi họ quan niệm vuông tròn tượng trưng cho sự đủ đầy, hạnh phúc.

Chiếc cối lớn nhất anh Sĩ từng thực hiện có đường kính khoảng 1 m, nặng 600 - 700 kg, giá gần 10 triệu đồng/bộ
ẢNH: DUY TÂN
Ngoài cối đá, cơ sở của anh Sĩ còn làm chén, tượng đá và một số sản phẩm trang trí, quà tặng bằng đá. Đơn hàng duy trì quanh năm giúp gia đình anh có thu nhập ổn định, đồng thời tạo thêm việc làm cho lao động địa phương. Anh cho biết thu nhập từ nghề có thời điểm hơn 1 triệu đồng/ngày, tùy số lượng và loại sản phẩm hoàn thành.
Giữ nghề để tiếng cối đá còn vang
Ngày trước, chiếc cối đá gần như hiện diện trong mỗi căn bếp miền quê. Người ta dùng cối để giã gạo, giã gia vị, đâm cua, giã ớt... Mỗi nhịp chày gỗ nện xuống lòng cối lại phát ra tiếng "cạch cạch" đều đặn, hòa vào nhịp sống của những căn bếp gia đình.

Chiếc cối tí hon để trưng bày được đánh giá khó làm hơn so với sản phẩm kích thước lớn hơn
ẢNH: DUY TÂN
Rồi máy xay, máy giã xuất hiện. Cối đá dần không còn là vật dụng thiết yếu. Nhu cầu giảm, người làm nghề lần lượt bỏ nghề. Từ chỗ có nhiều người theo nghề quanh núi Sập, đến nay khu vực này chỉ còn khoảng 5 - 6 người làm cối đá.
Riêng anh Sĩ, giữ nghề truyền thống không đơn thuần là tiếp tục làm ra một vật dụng để bán. "Một số bà con vẫn chuộng cối đá, họ khen cối đẹp, chắc và bền. Đó là động lực để tôi tiếp tục làm nghề, tìm cách làm thêm những mẫu mã đẹp hơn, chất lượng hơn", anh nói.

Ngoài cối đá, cơ sở của anh Sĩ còn làm chén, tượng đá và một số sản phẩm trang trí, quà tặng bằng đá
ẢNH: DUY TÂN
Điều đáng mừng là nghề đang được truyền lại ngay trong gia đình. Em trai anh là Nguyễn Phúc Hậu đã theo nghề khoảng 2 năm và dần trở thành người thợ lành nghề.
Có thể hôm nay, cối đá không còn giữ vị trí không thể thiếu trong mỗi căn bếp như vài chục năm trước. Nhưng mỗi sản phẩm hoàn thiện vẫn mang dấu vết của một nghề thủ công, của bàn tay người thợ và ký ức về những căn bếp miền quê.











Bình luận (0)