Chiếc máy Airboots S16-S được phát triển bởi PGS. TS. Vũ Ngọc Ánh và các học trò nhằm đáp ứng nhu cầu của nông dân nuôi tôm quảng canh. Với thiết kế độc đáo, máy giúp giảm bớt công sức trong việc tạt men vi sinh và rải thức ăn, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất. Cùng sống xanh số 142 là câu chuyện khám phá những giải pháp công nghệ tiên tiến cho ngành nông nghiệp trong năm 2026.
Bài học xương máu từ bùn đất và cỏ dại
Ý tưởng về chiếc máy Airboots S16-S không đến từ phòng thí nghiệm, mà xuất phát từ chính nhu cầu của những người nông dân nuôi tôm quảng canh diện tích lớn. Nhận thấy người dân còn thiếu thiết bị hỗ trợ, công việc tạt men vi sinh hay rải thức ăn vẫn phải thực hiện thủ công, lội dưới ao nước vất vả, PGS. TS. Vũ Ngọc Ánh cùng những học trò của mình đã bắt tay vào thiết kế một phiên bản máy dành riêng cho ngành tôm.
Tuy nhiên, con đường từ ý tưởng đến thực tế không hề trải hoa hồng. PGS Ánh chia sẻ về những kỷ niệm chiếc máy bị "cháy xì khói" ngay trong ngày thứ hai thử nghiệm. Đó là những bài học đắt giá về độ ma sát của cỏ lanh, về sự khác biệt giữa lớp bùn cứng như "bánh tráng" và lớp bùn mềm sau khi cày sới. Thậm chí, chỉ một thay đổi nhỏ là cắt ngắn phao 5cm theo ý khách hàng cũng có thể làm thay đổi hoàn toàn trọng tâm, khiến thuyền bị chúi mũi và lật khi chạy tốc độ cao. Chính những thách thức về thủy động lực học này đã thôi thúc thầy và các học trò phải tính toán tỉ mỉ, giám sát chặt chẽ từng góc cắt để đảm bảo máy vận hành ổn định.

Máy Airboots S16-S vận hành tự động trên ao, thực hiện phun vi sinh và rải thức ăn giúp người nuôi tôm giảm công lao động, tăng hiệu quả sản xuất
Đoàn Linh
Khát vọng nâng tầm giá trị con tôm Việt
Mục tiêu lớn nhất của PGS. TS. Vũ Ngọc Ánh không chỉ dừng lại ở việc tạo ra một chiếc máy chạy tốt, mà là quản trị rủi ro và tăng thu nhập cho nông dân. PGS trăn trở khi Việt Nam đứng top đầu thế giới về diện tích tôm quảng canh nhưng mức độ áp dụng công nghệ lại gần như bằng không, mật độ thả nuôi chỉ đạt 1-2 con/m2, thấp hơn rất nhiều so với Indonesia hay Ecuador.
Với Airboots S16-S, việc rải thức ăn trở nên đồng đều hơn, giúp tôm phát triển đồng nhất về kích thước, từ đó tăng tỷ lệ tôm đạt size lớn. Theo tính toán của PGS, chỉ cần tăng được 10% kích thước tôm trên tổng sản lượng, người nông dân có thể thu hồi vốn đầu tư máy chỉ sau một năm. Xa hơn thế, PGS Ánh kỳ vọng khi hệ thống máy được phủ rộng, các dữ liệu về nguồn nước và dịch bệnh từ hàng nghìn điểm sẽ tạo thành một mạng lưới cảnh báo sớm cho cả vùng. Đó chính là cách "Nhà khoa học của nhà nông" đưa những kiến thức học hỏi từ các nước phát triển vào sâu trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, để những thế mạnh như lúa, tôm, cà phê thực sự cất cánh bằng đôi cánh công nghệ nội địa.

PGS.TS Vũ Ngọc Ánh cùng cộng sự điều khiển và theo dõi hoạt động của máy chăm tôm từ xa, ứng dụng công nghệ vào nuôi trồng thủy sản
Đoàn Linh
Bình luận (0)