Phường Tân Khánh phối hợp Bảo tàng Bình Dương (TP.HCM) vừa tổ chức hội thảo khoa học về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích khảo cổ quốc gia cù lao Rùa.
Di tích khảo cổ cù lao Rùa được nhà nước công nhận là di tích khảo cổ cấp quốc gia vào năm 2010.
Quá trình nghiên cứu khảo cổ
Cù lao Rùa còn có tên gọi khác là cù lao Thạnh Hội trước đây thuộc xã Thạnh Hội (thành phố Tân Uyên, Bình Dương cũ; nay là phường Tân Khánh, TP.HCM) có diện tích khoảng 227 ha, được bao bọc bởi 2 nhánh sông Đồng Đai.

Gò Rùa trên cù lao Rùa, nơi phát hiện nhiều dấu tích sinh sống của cư dân cổ
ẢNH: ĐỖ TRƯỜNG
Tên gọi cù lao Rùa xuất phát từ hàng trăm năm trước do nhìn từ trên cao vùng đất này giống như một con rùa đang nằm. Trên cù lao Rùa có gò đá ong cao nổi lên (khoảng 18 m so với mặt đất) được gọi là gò Rùa, diện tích khoảng 5 ha. Trên đỉnh gò Rùa có chùa Khánh Sơn niên đại khoảng hơn 200 năm tuổi.
Theo các tài liệu nghiên cứu lịch sử, khoảng năm 1888, nhà khảo cổ học người Pháp E.Cartailhac lần đầu tiên phát hiện và ghi nhận sự tồn tại của di tích chứng minh người tiền sử đã sinh sống ở cù lao Rùa.
Tiếp đến, năm 1897, nhà khảo cổ học người Pháp E.T.Hamy công bố bộ sưu tập hiện vật đầu tiên của di tích trên Tạp chí Bào tàng lịch sử tự nhiên Paris. Các năm 1902 và 1910 - 1913, nhà khảo cổ học D.Grossin và A.Jodin nghiên cứu, khai quật và công bố nhiều hiện vật công cụ bằng, đồ gốm trên các tạp chí Viễn Đông Bác Cổ và Hội tiền sử Pháp.

Đục đá của cư dân cổ được tìm thấy ở cù lao Rùa hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Bình Dương (TP.HCM)
ẢNH: ĐỖ TRƯỜNG
Sau khi các tài liệu, cổ vật được công bố và tìm thấy ở cù lao Rùa đã lôi cuốn nhiều nhà khảo cổ học người Pháp vào cuộc nghiên cứu, khai quật tìm kiếm cổ vật. Cụ thể năm 1937, hai nhà khảo cổ học L.Malleret và O.Janse đã tìm kiếm ở 3 rãnh đào trên đỉnh gò Rùa phát hiện nhiều mảnh gốm làm bằng bàn xoay và nhiều rìu đá.
Đến năm 1970, nhà địa chất và khảo cổ học Henri Fontaine qua phân tích cổ vật và lấy mẫu phóng xạ đã chứng minh và điều chỉnh niên đại các cổ vật (được phát hiện ở cù lao Rùa) có từ cuối thời kỳ đồ Đá, đầu thời kỳ Đồng thau (cách ngày nay khoảng từ 3.000 – 3.500 năm).

Từ đỉnh gò Rùa nhìn ra sông Đồng Nai
ẢNH: ĐỖ TRƯỜNG
Giải mã 12 huyệt mộ đất trên 3.000 năm
Từ sau năm 1975, các nhà khảo cổ học Phạm Quang Sơn và Bùi Chí Hoàng đã cho đào các rãnh thám sát trên gò Rùa, xung quanh khu vực chùa Khánh Sơn phát hiện thêm nhiều cổ vật như khuôn đúc rìu, dọi se sợi, bi gốm…
Đỉnh điểm năm 2003, một cuộc khai quật quy mô lớn do Trung tâm nghiên cứu khảo cổ học phối hợp Bảo tàng Bình Dương đã phát hiện trên gò Rùa (khu đất trong khuôn viên chùa Khánh Sơn) phía giáp sông Đồng Nai có 12 huyệt mộ đất còn nguyên vẹn cùng nhiều hiện vật táng, táng thức có giá trị khảo cổ rất cao.

Khu đất trên gò Rùa nơi phát hiện nhiều huyệt mộ đất của cư dân cổ
ẢNH: ĐỖ TRƯỜNG
Giải mã các huyệt mộ đất, các nhà nghiên cứu, khảo cổ học, cho rằng vị trí các huyệt mộ đất nằm trải dài từ sườn gò Rùa đổ dốc nghiêng về phía bờ sông Đồng Nai, cho thấy khu vực này là khu vực mộ địa (nghĩa địa) và tách biệt với khu vực cư trú của cư dân cổ.
Đáng chú ý, trong các huyệt mộ đất, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều loại hiện vật được tùy táng cùng với người chết như bát bồng, các mảnh gốm, công cụ và trang sức bằng đá…

Một trong những mảnh gốm cổ đang được trưng bày tại Bảo tàng Bình Dương
ẢNH: ĐỖ TRƯỜNG
Sau đó, các cuộc khai quật vào các năm 2021 và 2025, các nhà nghiên cứu, khảo cổ học phát hiện thêm 11.093 mảnh gốm, hiện vật như rìu đá, rìu đồng… cùng các dấu tích chứng minh sự tích tụ văn hóa, trình độ thủ công xuất sắc của cư dân cổ.
"Công xưởng" chế tác công cụ, trang sức
Theo các tài liệu được trình bày tại hội thảo khoa học quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích khảo cổ quốc gia cù lao Rùa, các nhà nghiên cứu, khảo cổ học xác định các hiện vật như rìu đá, dao đá, đục đá, trang sức bằng đá, rìu đồng… của cư dân cổ ở cù lao Rùa đã đạt đến đỉnh cao của kỹ thuật chế tác hậu kỳ Đá mới đến đầu kỳ Đồng thau.

Rìu đá tìm thấy ở cù lao Rùa đang được trưng bày tại Bảo tàng Bình Dương
ẢNH: ĐỖ TRƯỜNG
Cụ thể, để chế tác ra các công cụ, trang sức, cư dân cổ đã sử dụng các bàn mài là từ đá sa thạch với số lượng 400 bàn mài được tìm năm 2003 và 150 bàn mài được tìm thấy năm 2021.
Từ các hiện vật được tìm thấy, các nhà nghiên cứu, khảo cổ học xác định ở cù lao Rùa từng tồn tại một "công xưởng" chế tác (ghè đẽo, mài, đục) công cụ, đồ trang sức có quy mô lớn.

Nhiều mảnh gốm, bình gốm tùy táng trong các huyệt mộ đất
ẢNH: ĐỖ TRƯỜNG
Để chế tác trang sức bằng đá, các nhà khảo cổ học cho rằng cư dân cổ ở cù lao Rùa đã sử dụng kỹ thuật mài xoáy phá lõi từ hai mặt, sau đó dùng công cụ mài chuyên dụng bào mòn dần phần tâm của phiến đá tròn từ cả mặt trước và mặt sau cho đến khi hai vết lõm gặp nhau và xuyên thủng lòng của một vòng trang sức.
Kỹ thuật mài xoáy phá lõi tiêu tốn nhiều thời gian, công sức và nguyên liệu hơn, minh chứng cho tính chất xưởng giai đoạn sớm, thủ công nghiệp gắn chặt tại không gian cư trú của cư dân cổ.
Tại hội thảo khoa học về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích khảo cổ quốc gia cù lao Rùa (ngày 25.9), UBND phường Tân Khánh (TP.HCM) cho rằng hệ thống di vật khảo cổ được phát hiện ở cù lao Rùa tương đối phong phú với các loại công cụ đá, rìu có vai, rìu tứ giác, cuốc, dao đá, bàn mài, vòng trang sức, dọi xe sợi, đồ gốm và nhiều dấu tích liên quan đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt cũng như mai táng của cư dân cổ.
Những giá trị này khẳng định cù lao Rùa không chỉ là tài sản văn hóa của địa phương mà còn là nguồn tư liệu khoa học có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân tiền sử ở lưu vực sông Đồng Nai và khu vực Đông Nam bộ.
Đây cũng là cơ sở quan trọng để tiếp tục bảo tồn, nghiên cứu và từng bước xây dựng Cù Lao Rùa trở thành một điểm đến về văn hóa, lịch sử, khảo cổ học đặc trưng của địa phương.











Bình luận (0)