'Dạy' AI hiểu đúng để kể chuyện về Việt Nam

Trinh Nguyễn
Trinh Nguyễn
Tạo dữ liệu văn hóa chính xác, kết nối được, khai thác được cho cả con người và AI… là những cách thúc đẩy văn hóa kiến tạo nội lực quốc gia.

Số hóa, kết nối dữ liệu

PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Phó trưởng ban Tuyên giáo T.Ư, nhắc đến di sản UNESCO quan họ để mở đầu phát biểu tại hội thảo Văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới: phát huy nguồn lực nội sinh, kiến tạo động lực tăng trưởng quốc gia do Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội) tổ chức ngày 21.10. Theo đó, nếu làn điệu quan họ được nghệ nhân hát và ghi âm, nó có thể được đưa lên mạng, nhiều người nghe. Nhưng nếu chỉ có tệp âm thanh, có thông tin người hát, lề lối hát, lớp nghĩa văn hóa… thì vài chục năm sau, giai điệu vẫn đó mà con cháu không thật sự hiểu được hồn cốt của di sản.

PGS-TS Đặng Thị Thu Hương, Hiệu phó Trường ĐH KHXH&NV, cũng cho rằng: "Một di sản không chỉ cần được bảo tồn, mà còn cần được nghiên cứu, số hóa, kể lại bằng những phương thức mới và đưa đến gần hơn với công chúng".

'Dạy' AI hiểu đúng để kể chuyện về Việt Nam- Ảnh 1.

Các bảo vật quốc gia có thể được số hóa và sản xuất các phiên bản

ẢNH: KTS ĐINH VIỆT PHƯƠNG

Việc xây dựng những kho tư liệu di sản được bàn nhiều trong hội thảo. KTS Đinh Việt Phương, Công ty 3D Art, nói đến việc làm sao để xây dựng bộ khung yêu cầu kỹ thuật cho việc số hóa di sản. Điều này sẽ giúp có nhiều phiên bản số hóa khác nhau cho cùng một di sản để khai thác ở các mức độ khác nhau. Quan trọng nhất, bộ khung kỹ thuật sẽ giúp kết nối các di sản với nhau thành kho dữ liệu lớn, tiến tới bản đồ số với công nghệ GIS. "Khi các di sản còn bị phân mảnh thì việc quản lý theo tọa độ GIS là tốt nhất, lúc đồng bộ nó sẽ tạo thành hệ thống bản đồ, dẫn đường đến hiện vật", KTS Phương nói.

Ranh giới của đạo đức, trách nhiệm

Nhưng số hóa di sản, theo PGS-TS Sơn chỉ là điểm khởi đầu để di sản thành tài sản, văn hóa thành nguồn lực nội sinh. Sau dữ liệu văn hóa là con người, ký ức, niềm tin và quyền lợi của những chủ thể cụ thể. Vì thế, có những dữ liệu cần công khai rộng rãi, có những dữ liệu chỉ được khai thác theo điều kiện, có những tri thức truyền thống, thực hành thiêng, dữ liệu cá nhân hoặc tác phẩm có bản quyền phải được bảo vệ nghiêm túc.

GS-TS Lâm Thị Mỹ Dung và nghiên cứu sinh (NCS) Chu Lâm Anh đặt ra nguyên tắc: khả năng số hóa không đồng nghĩa với quyền công khai và thương mại hóa không giới hạn. Vật thiêng, không gian thiêng, di cốt người và tri thức nghi lễ phải được ứng xử trong ngữ cảnh văn hóa, tín ngưỡng và quan hệ cộng đồng, không chỉ như chất liệu sáng tạo. Dữ liệu số có thể bị sao chép, biến đổi, tách khỏi bối cảnh hoặc sử dụng để huấn luyện AI. Vì vậy, quản trị cần có phân tầng tiếp cận, truy xuất nguồn gốc, tham vấn và quy trình xử lý sử dụng sai lệch. Bảo vệ tính thiêng cũng cần đi cùng tiêu chí minh bạch, tránh hạn chế tùy tiện quyền nghiên cứu và tiếp cận công chúng.

Theo PGS-TS Sơn, trong điều kiện AI phát triển cũng cần lưu ý đến chủ quyền văn hóa trên không gian số, khi cả con người và máy đều sử dụng dữ liệu văn hóa. "Nếu dữ liệu đầu vào sai lệch, thiếu ngữ cảnh hoặc quá nghèo nàn, chúng ta có nguy cơ để lịch sử và văn hóa dân tộc được kể lại theo những cách thiếu chính xác. Muốn AI hiểu đúng Việt Nam, trước hết Việt Nam phải làm chủ những nguồn dữ liệu văn hóa đáng tin cậy của mình", ông Sơn nói.

Chính vì thế, theo GS-TS Lâm Thị Mỹ Dung, việc số hóa dữ liệu văn hóa không thể tách rời trách nhiệm và đạo đức. "Cần cụ thể hóa ai quyết định, ai chịu trách nhiệm khi dữ liệu bị sử dụng sai lệch, ai giải quyết khiếu nại và khắc phục hậu quả. Tuân thủ pháp luật không đương nhiên bảo đảm tính phù hợp văn hóa. Tham vấn cộng đồng và đánh giá tác động đạo đức cần được tích hợp từ thiết kế dự án, đặc biệt đối với dữ liệu nhạy cảm và AI", GS-TS Mỹ Dung nói.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.