ĐBSCL có thể ngập trên 18% diện tích vào năm 2100

Chí Nhân
Chí Nhân
Biến đổi khí hậu gia tăng nhiệt độ, nắng nóng, mưa cực đoan, hạn hán và nước biển dâng. Đặc biệt, khu vực Nam bộ và ĐBSCL cần được quan tâm trong bối cảnh nước biển dâng và nguy cơ ngập có thể gia tăng, trong khi các hiện tượng nhiệt và mưa cực đoan tiếp tục diễn biến phức tạp.

Mức nước biển dâng cao nhất khoảng 82 cm

Kịch bản biến đổi khí hậu năm 2025 của Bộ NN-MT cho thấy nhiệt độ trung bình năm tăng trong tất cả các kịch bản. Các chỉ số nhiệt cực đoan cũng gia tăng, trong đó khu vực phía nam có thể chứng kiến sự gia tăng đáng kể số ngày nắng nóng. Theo các kết quả theo ngưỡng nóng lên toàn cầu, khi mức nóng lên tăng từ 1,5°C lên 3 - 4°C, số ngày nắng nóng tăng rõ rệt; tại nhiều khu vực miền Trung và miền Nam, số ngày nắng nóng (từ 35°C trở lên) có thể tăng trên 50 ngày/năm ở các mức nóng lên cao. Sự gia tăng nhiệt độ cũng có thể làm tăng các rủi ro liên quan đến sức khỏe, nhu cầu làm mát và điều kiện làm việc ngoài trời.

Ở chiều ngược lại, mưa cực đoan cũng gia tăng. Cụ thể lượng mưa lớn nhất trong một ngày và năm ngày liên tiếp có xu hướng tăng, trong khi số ngày có mưa lớn cũng gia tăng. Đáng chú ý, số ngày có lượng mưa trên 100 mm/ngày tại một số khu vực có thể tăng khoảng 80 - 100% theo kịch bản cao. Đối với các đô thị và vùng sản xuất tập trung, sự gia tăng của mưa cực đoan đặt ra yêu cầu tăng cường xem xét năng lực tiêu thoát nước, cơ sở hạ tầng và khả năng chống chịu trước các hiện tượng mưa lớn.

ĐBSCL có thể ngập trên 18% diện tích vào năm 2100- Ảnh 1.

ĐBSCL chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu và nước biển dâng

ẢNH: G.B

Đáng chú ý với vấn đề nước biển dâng, theo kịch bản đến năm 2100, mức nước biển dâng trung bình tại vùng biển VN khoảng 61,9 cm, cao nhất khoảng 82 cm. Điều này khiến một phần lớn diện tích ĐBSCL ngập. Tại các khu vực ven biển phía nam, mức độ gia tăng này có ý nghĩa đặc biệt trong đánh giá nguy cơ ngập và các tác động liên quan đến điều kiện tự nhiên, sản xuất và cơ sở hạ tầng. Đến cuối thế kỷ này, tỷ lệ diện tích ngập của khu vực ĐBSCL khoảng 18,44% (kịch bản cao). Trong đó, Cà Mau là địa phương có nguy cơ ngập lớn nhất với 32,44% diện tích, tiếp đến là An Giang khoảng 29,13% (tập trung ở khu vực tỉnh Kiên Giang cũ).

Tại các khu vực ven biển phía nam, mức độ gia tăng này có ý nghĩa đặc biệt trong đánh giá nguy cơ ngập và các tác động liên quan đến điều kiện tự nhiên, sản xuất và cơ sở hạ tầng. Đối với các khu vực ven biển, Kịch bản 2025 cũng đưa ra thông tin chi tiết hơn về mức nước biển dâng tại từng khu vực, qua đó tạo cơ sở để tiếp tục đánh giá rủi ro ở quy mô địa phương.

Báo cáo của Bộ NN-MT cũng lưu ý, bản đồ ngập trong Kịch bản là kết quả ngập tĩnh do nước biển dâng. Kết quả chưa tính đến các yếu tố như sụt lún, thay đổi đường bờ, thủy triều, nước dâng do bão và các công trình bảo vệ bờ. Các chuyên gia khuyến nghị các địa phương sử dụng kết quả này trước hết để nhận diện khu vực có nguy cơ, không sử dụng độc lập cho thiết kế công trình cụ thể.

Thuận thiên là cách thích ứng tốt nhất

Theo các chuyên gia, mô hình khí hậu mới và các kịch bản chia sẻ kinh tế - xã hội, cập nhật về phương pháp, dữ liệu và độ phân giải; bổ sung, chi tiết hóa thông tin về các yếu tố khí hậu, hiện tượng cực đoan, nước biển dâng và nguy cơ ngập; lần đầu cung cấp kịch bản theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu, kịch bản chuyên sâu cho khu vực đô thị và bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với một số lĩnh vực nhạy cảm. Những kết quả này góp phần nâng cao khả năng đánh giá rủi ro, hỗ trợ xây dựng và lựa chọn các giải pháp thích ứng phù hợp với từng ngành, lĩnh vực và địa phương.

PGS-TS Lê Anh Tuấn, chuyên gia biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ) phân tích: Thực tế là quá trình ấm lên toàn cầu vẫn đang diễn ra khiến tình trạng biến đổi khí hậu gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng nhiều, ở khắp nơi trên thế giới. Việc xây dựng và cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu cho phù hợp với tình hình thực tế là điều hết sức cần thiết và quan trọng. Dù biến đổi khí hậu đã và đang xảy ra hằng ngày, tuy nhiên khi sử dụng các con số từ kịch bản cũng cần hết sức chú ý và thận trọng vì đó là những giá trị phỏng đoán cho tương lai hàng chục, thậm chí cả trăm năm sau. Trong khi đó, thực tế cuộc sống sinh hoạt và sản xuất là theo mùa vụ và từng năm.

Kịch bản là cơ sở để tham khảo, qua đó từng địa phương và thành phần, đối tượng sẽ phải học cách thích nghi riêng. Cụ thể như các nhà khoa học nông nghiệp đã phát triển các giống lúa chịu mặn. Đây là giải pháp thích ứng đã phát huy hiệu quả những năm qua.

PGS-TS Lê Anh Tuấn, chuyên gia biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ)

"Điều tôi muốn nhấn mạnh là sự lệch pha giữa báo cáo và thực tế. Biến đổi khí hậu là một quá trình diễn ra rất lâu, còn cuộc sống bị tác động nhưng mỗi ngày một ít. Theo cách thay đổi đó, con người sẽ từng bước học cách thích nghi với các thay đổi một cách thân thiện và bền vững hơn với môi trường. Mỗi khu vực có một hệ sinh thái khác nhau, mỗi đối tượng cây trồng, vật nuôi cũng có đặc tính riêng…; vì vậy cần có một giải pháp thích ứng riêng. Kịch bản là cơ sở để tham khảo, qua đó từng địa phương và thành phần, đối tượng sẽ phải học cách thích nghi riêng. Cụ thể như các nhà khoa học nông nghiệp đã phát triển các giống lúa chịu mặn. Đây là giải pháp thích ứng đã phát huy hiệu quả những năm qua", ông Lê Anh Tuấn lưu ý.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia sinh thái học ĐBSCL, cũng khuyến nghị kịch bản mới có những điều chỉnh mang tính cập nhật là điều rất đáng hoan nghênh, tuy nhiên bản chất vấn đề biến đổi khí hậu không phải mới và cách thích ứng tốt nhất với vựa lúa miền Tây vẫn là trên tinh thần "thuận thiên" như Nghị quyết 120 năm 2017 của Chính phủ. Quy hoạch tích hợp và phát triển theo từng vùng sinh thái, từ đó phát huy tối đa đặc điểm và giá trị của mỗi vùng; vùng nào trồng lúa sẽ trồng lúa, vùng trồng cây ăn quả sẽ trồng cây, vùng ven biển bị ngập sẽ phát triển trồng rừng kết hợp với nuôi trồng thủy sản. Vấn đề không chỉ là biến đổi khí hậu tác động thế nào mà còn là cách thức chúng ta đầu tư thay đổi tư duy sản xuất phù hợp với điều kiện mặn - ngọt có thể mở đường cho những hệ thống canh tác mới phù hợp hơn.

Căn cứ khoa học trong công tác quy hoạch

Ông Nguyễn Hồng Nguyên, Phó giám đốc Sở NN-MT TP.HCM, cho biết TP.HCM vừa là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, vừa có vùng ven biển và mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc nên chịu tác động từ triều cường, mưa lớn, xâm nhập mặn và nắng nóng đô thị. Những yếu tố này đang tác động đồng thời đến đời sống của người dân. Sở NN-MT sẽ sử dụng Kịch bản năm 2025 làm căn cứ khoa học cho công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư thích ứng của thành phố đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2075, trên cơ sở Kịch bản mới.

Về nguy cơ ngập, Sở NN-MT ghi nhận khuyến cáo bản đồ nguy cơ ngập hiện là bản đồ ngập tĩnh do nước biển dâng, xây dựng ứng với kịch bản cao, chưa xét đến sụt lún đất, thủy triều, đê bao và các yếu tố động lực khác. Để phục vụ thiết kế công trình và phòng, chống thiên tai, cần tiếp tục có các nghiên cứu chuyên sâu theo điều kiện đặc thù của địa phương.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.