Có cơ chế bán điện mặt trời mái nhà dư lên lưới, tối đa 50%
Theo đó, một trong những thay đổi quan trọng nhất của Nghị định 243 là lần đầu tiên quy định rõ cơ chế mua bán phần điện dư từ hệ thống điện mặt trời mái nhà. Trong khi các quy định trước đây (Nghị định 57 và Nghị định 58) chủ yếu khuyến khích điện mặt trời tự sản tự sử dụng, chưa quy định đầy đủ về việc bán phần điện dư lên lưới.
Thứ 2, sản lượng điện dư được mua bán theo thỏa thuận giữa bên mua và bên bán, nhưng không vượt quá 50% sản lượng phát ra của hệ thống năng lượng mặt trời mái nhà, xác định theo bộ chuyển đổi nghịch lưu (inverter). Mức này cao hơn so với tỷ lệ 20% được quy định trước đây.
Tuy nhiên, nhằm thúc đẩy phát triển nguồn điện phân tán trong giai đoạn đầu, Nghị định 243 cho phép đến hết ngày 31.12.2030, nếu hệ thống điện quốc gia có khả năng tiếp nhận và vẫn bảo đảm vận hành an toàn, ổn định thì tỷ lệ điện bán lên lưới có thể vượt mức 50%. Đây cũng là bước điều chỉnh quan trọng, giúp nhiều dự án điện mặt trời mái nhà có thể tối ưu hiệu quả đầu tư thay vì chỉ phục vụ mục đích tự tiêu thụ.

Nghị định mới bổ sung xác định giá mua điểu
ẢNH: NHẬT THỊNH
Thứ 3, bên cạnh việc mở rộng cơ chế bán điện, Nghị định 243 cũng bổ sung nguyên tắc xác định giá mua điện dư. Theo đó, giá mua được tính trên cơ sở giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề nhưng không vượt quá khung giá phát điện mặt trời do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Quy định này tạo cơ sở pháp lý minh bạch hơn cho việc thanh toán, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa bên bán và bên mua điện.
Quy định rõ cách xác định giá mua điện dư
Bên cạnh việc mở rộng quyền bán điện, Nghị định 243 cũng lần đầu tiên quy định cụ thể nguyên tắc xác định giá mua điện dư. Theo đó, giá mua sản lượng điện dư được xác định bằng giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề do đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện công bố, được tính bằng đơn vị đồng Việt Nam/kWh.
Trong trường hợp mức giá này cao hơn giá trần của khung giá phát điện đối với điện mặt trời mặt đất không có hệ thống lưu trữ theo từng miền, giá mua điện sẽ áp dụng theo mức giá tối đa của khung giá phát điện tương ứng. Quy định này nhằm bảo đảm cơ chế thị trường nhưng vẫn kiểm soát được chi phí mua điện và tránh tạo áp lực lên hệ thống điện.
Ngoài ra, Nghị định 243 cũng quy định rõ phương thức thanh toán hằng tháng. Nếu sản lượng điện thực tế phát lên lưới lớn hơn sản lượng đã thỏa thuận, bên mua chỉ thanh toán theo mức sản lượng trong hợp đồng. Ngược lại, nếu sản lượng thực tế thấp hơn, việc thanh toán sẽ căn cứ vào sản lượng điện thực tế được đo đếm tại công tơ. Quy định này giúp minh bạch hóa việc thanh toán và tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho các hợp đồng mua bán điện.
Đáng chú ý, các hệ thống điện mặt trời mái nhà tại khu vực miền núi, hải đảo hoặc nơi chưa được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia được áp dụng cơ chế linh hoạt hơn, không bị giới hạn tỷ lệ bán điện dư như khu vực có lưới điện.
Việc nới tỷ lệ mua bán điện mặt trời mái nhà tự dùng được đưa ra trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu thúc đẩy phát triển loại hình năng lượng này nhằm bổ sung nguồn cung tại chỗ, giảm áp lực đầu tư lưới và đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng.
Hiện cả nước có khoảng 103.000 hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất lắp đặt hơn 9.500 MW. Theo Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, đến năm 2030, 50% tòa nhà công sở và nhà dân sẽ sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu.
Bình luận (0)