Đây là một trong những băn khoăn trước dự thảo Quy chế tiếp nhận học sinh (HS) đầu cấp giáo dục phổ thông, trong đó đề xuất trường THPT không chuyên chỉ thi 2 môn toán và ngữ văn khi tuyển sinh lớp 10 của Bộ GD-ĐT.
Giảm môn thi không đồng nghĩa bỏ tiếng Anh
Gần 20 năm nay, kỳ thi lớp 10 được quy định gồm 2 môn toán, ngữ văn và môn thi thứ 3 do sở GD-ĐT các địa phương lựa chọn. Cách đây 2 năm, Bộ quy định thêm môn thi thứ 3 không được trùng nhau quá 3 năm. Trong đó, ở TP.HCM và nhiều tỉnh, thành khác từ nhiều năm nay kỳ thi tuyển sinh lớp 10 giữ ổn định với 3 môn toán, ngữ văn, ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh).
Tuy nhiên, theo dự thảo mới đây, Bộ GD-ĐT đề xuất sẽ bỏ môn thi thứ 3 trong kỳ thi tuyển sinh vào các trường THPT công lập không chuyên, chỉ giữ môn toán và ngữ văn. Điều này đã lập tức thu hút nhiều quan tâm, trong bối cảnh VN đang từng bước triển khai Đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học (đề án).

Thí sinh dự thi lớp 10 tại TP.HCM năm 2026 với 3 môn: toán, ngữ văn, ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh)
ẢNH: ĐỘC LẬP
Là chủ biên và tổng chủ biên các sách giáo khoa tiếng Anh Macmillan theo Chương trình GDPT 2018, thạc sĩ Hoàng Tăng Đức, giảng viên Khoa Ngoại ngữ (Trường ĐH Vinh), kiêm nhà sáng lập Anh ngữ quốc tế Openland và hệ sinh thái Global Real English, cho rằng chủ trương của dự thảo là giảm số môn thi, không phải loại bỏ tiếng Anh khỏi chương trình phổ thông.
Thực tế theo ông Đức, không phải cứ giữ tiếng Anh trong thi tuyển sinh thì chất lượng dạy, học tiếng Anh tự động được bảo đảm. Bởi lẽ nếu đề tiếng Anh chỉ đo lường kiến thức ngôn ngữ và kỹ năng làm bài trên giấy, hoạt động dạy học dễ bị thu hẹp vào luyện ngữ pháp, từ vựng và các dạng câu hỏi trắc nghiệm - trong khi năng lực nghe, nói và giao tiếp chưa được quan tâm tương xứng.
Vì vậy, câu hỏi cần đặt ra không đơn thuần là có nên giữ tiếng Anh trong kỳ thi lớp 10 hay không, mà làm thế nào để thay đổi trong chính sách tuyển sinh không làm suy giảm vị thế, chất lượng và động lực học tiếng Anh, nhất là khi đề án nhắm tới mục tiêu hình thành môi trường sử dụng ngôn ngữ này thường xuyên và hiệu quả, chứ không phải chỉ nâng cao điểm số.
Để giúp HS hình thành động lực học tiếng Anh bền vững, ông Đức đề xuất điều chỉnh để HS cảm nhận được quyền chủ động, năng lực tiến bộ lẫn sự kết nối với người khác theo tinh thần của lý thuyết tự quyết (self-determination theory). Điều này cần đến từ đổi mới kiểm tra, đánh giá; xây dựng môi trường dùng tiếng Anh thực chất...; đặc biệt phải đảm bảo công bằng giáo dục.
"Nếu hướng tới tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong trường học, chúng ta cần chuyển từ tư duy "học để thi" sang "học để sử dụng" và xa hơn nữa là "sử dụng tiếng Anh để học tập và phát triển bản thân". Đó mới là nền tảng lâu dài để nâng cao năng lực ngoại ngữ của thế hệ trẻ", ông Đức nhấn mạnh.
Thạc sĩ Đức cho rằng giảm áp lực thi cử là mục tiêu đáng quan tâm, nhưng không nên đồng nhất việc giảm số môn thi với giảm nhu cầu đánh giá năng lực. Điều cần thay đổi không phải là xóa bỏ động lực đến từ đánh giá - mà là xây dựng một hệ thống đánh giá giúp HS học thực chất và tiến bộ bền vững.
Đồng tình, GS Barry O'Sullivan, Giám đốc bộ phận nghiên cứu ngôn ngữ Anh ở Hội đồng Anh, trao đổi với Thanh Niên tại hội thảo quốc tế VietTESOL tổ chức hồi đầu tháng 9 rằng việc kiểm tra, đánh giá là yêu cầu cần thiết để nuôi dưỡng động lực học tiếng Anh - bởi hệ thống giáo dục không thể khiến HS thích tiếng Anh chỉ bằng lời khích lệ. Tiến xa hơn nữa, chúng ta có thể chỉ cho thi nói thay vì yêu cầu thi ngữ pháp trên giấy hoặc thi cả 4 kỹ năng.
Bởi theo ông, nếu muốn HS dùng tiếng Anh, hệ thống cần xây dựng bài thi hướng đến việc tạo cơ hội để HS thực sự được sử dụng ngôn ngữ này. Ông ví dụ tại Anh, có một bài thi nói yêu cầu HS "dạy" lại cho giám khảo về chủ đề nào đó, như nội dung một bộ phim. Kết quả chỉ ra HS dự thi rất thích cách làm này vì các bạn được tự mình làm chủ quá trình kiểm tra.

Tuyển sinh vào lớp 10 là kỳ thi căng thẳng với thí sinh ở các thành phố lớn
ảnh: Độc Lập
Giảm khả năng sàng lọc trong tuyển sinh ?
Ông Huỳnh Thanh Phú, Hiệu trưởng Trường THPT Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành, TP.HCM) - một trong những trường THPT thuộc tốp đầu của TP.HCM, cho biết từ nhiều năm nay, mặt bằng điểm thi lớp 10 của những thí sinh (TS) trúng tuyển vào trường cho thấy vai trò điểm 3 bài thi toán, ngữ văn và tiếng Anh tương đương nhau. Không một môn nào chiếm ưu thế và có sự tác động đến cơ cấu điểm trúng tuyển của TS.
Ông Phú cho rằng việc Bộ GD-ĐT định hướng 2 môn bắt buộc toán và ngữ văn là đúng, nhưng đề nghị giao địa phương chủ động quyết định có thi môn thứ 3 hay không, bởi mỗi địa phương có đặc thù, định hướng phát triển khác nhau.
Còn hiệu trưởng một trường THCS tại TP.HCM trên cơ sở phân tích dải điểm thi lớp 10, nêu một số nhận định việc không có môn thi thứ 3 sẽ tác động đến TS ra sao.
Theo hiệu trưởng này, từ năm 2021 trở về trước, khi kỳ thi lớp 10 còn áp dụng hệ số nhân 2 đối với môn toán, ngữ văn, điểm tối đa của một TS là 50. Dải điểm rộng đồng nghĩa với việc TS được phân bố trải đều trên nhiều mức điểm khác nhau, do đó điểm chuẩn giữa các trường và các nguyện vọng thường chỉ lệch nhau 0,25 - 0,5 điểm, rất hiếm khi vượt quá 1 điểm.
Từ năm học 2021 - 2022 đến nay, sau khi bỏ hệ số nhân, thang điểm là 30, số lượng mức điểm có thể đạt được giảm xuống, dẫn đến nhiều TS dồn vào cùng một mốc điểm, biên độ lệch điểm chuẩn giữa các trường nới rộng ra, phổ biến ở mức 0,5 - 2 điểm, thậm chí lệch đến 3 điểm.
Nếu bỏ môn thứ 3, thang điểm chỉ còn tối đa 20, toàn bộ TS cùng bị dồn vào một thang điểm ngày càng "chật" hơn.
Với một tập hợp hàng chục ngàn đến hàng trăm ngàn TS, số lượng mức điểm càng ít thì số TS trùng điểm nhau càng nhiều. Khi đó, hàng ngàn em có thể cùng đạt một mức điểm như nhau, khiến cơ quan tuyển sinh không có đủ cơ sở để phân loại và xếp thứ tự nguyện vọng một cách chính xác. Hệ thống mất đi độ phân giải cần thiết để làm đúng chức năng sàng lọc của nó.
Ngoài ra, khâu ra đề thi cũng đặc biệt cần lưu ý. Trên thang 50 điểm, nếu một câu hỏi ra hơi khó hoặc hơi dễ hơn dự kiến, tác động chỉ làm xê dịch điểm số trong biên độ hẹp và hệ thống vẫn có đủ "khoảng trống" để tự điều chỉnh. Nhưng trên thang 20 điểm, mỗi câu hỏi chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều trong tổng điểm, nên chỉ cần một câu lệch độ khó là đủ kéo điểm chuẩn toàn hệ thống biến động theo biên độ lớn, gây ra kết quả ngoài dự liệu cho cả người thi lẫn người tổ chức.
Áp lực này còn bị khuếch đại bởi yếu tố nhân khẩu học. Chu kỳ tuyển sinh sắp tới trùng với thời điểm HS sinh năm Nhâm Thìn bước vào độ tuổi thi lớp 10 - đây là một thế hệ có quy mô dân số đặc biệt lớn so với các năm liền kề.

Phụ huynh chờ con bên ngoài phòng thi lớp 10 tại TP.HCM
ảnh: Nhật Thịnh
Áp lực thi lớp 10 do mất cân đối giữa số HS và năng lực tiếp nhận
Vị hiệu trưởng trường THCS này cho rằng bản chất của kỳ thi tuyển sinh lớp 10 tại các đô thị lớn hiện nay là loại thải chứ không phải phân loại do sự mất cân đối nghiêm trọng giữa số lượng HS và năng lực tiếp nhận thực tế của hệ thống trường công lập.
Do đó, mọi điều chỉnh về cơ cấu môn thi hay phương thức xét tuyển, dù hợp lý đến đâu về mặt kỹ thuật, cũng chỉ là giải pháp tình thế.
Giải pháp mang tính chiến lược có khả năng giải quyết tận gốc vấn đề là tăng cường đầu tư xây dựng trường học công lập tại các khu vực trung tâm của Hà Nội và TP.HCM, bởi xây trường ở vùng ven trong khi người dân tập trung sinh sống ở nội thành vẫn không giải quyết được bài toán về khoảng cách đi lại thực tế. Điều xã hội cần đòi hỏi ở các cơ quan có thẩm quyền không phải là một phương án thi hợp lý hơn mà là thêm trường, thêm chỗ học tại nơi người dân đang sống.












Bình luận (0)