VN cần 260 tỉ USD/năm để tăng trưởng cao
Để thực hiện tăng trưởng kinh tế cao, đạt được mục tiêu đưa VN trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, tổng vốn đầu tư trong nền kinh tế phải tăng mạnh so với hiện nay.
Theo tính toán của TS Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2030, ước khoảng 40% GDP, tương đương 260 tỉ USD theo giá hiện hành, chưa kể nhu cầu vốn bổ sung cho ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng và phát triển hạ tầng số.

Phối cảnh Trung tâm Tài chính quốc tế VN tại TP.HCM. Đây được xem là một trong nhiều bước phát triển thị trường vốn VN
ẢNH: UBND TP.HCM
Về thuận lợi, VN đang sở hữu nhiều dư địa quan trọng. Trước hết, tỷ lệ tiết kiệm so với GDP hiện đạt khoảng 37%, trong khi tỷ lệ đầu tư ở mức khoảng 31% GDP, cho thấy tiềm năng nguồn lực trong dân cư và doanh nghiệp (DN) còn rất lớn, bao gồm cả phần vốn đang tích tụ trong hệ thống ngân hàng. So sánh quốc tế cũng cho thấy, với mức tiết kiệm khoảng 37% GDP, VN có nền tảng tích lũy tương đối tích cực, cao hơn nhiều quốc gia có trình độ phát triển tương đồng, đặc biệt trong khu vực ASEAN.
Cùng với đó, khu vực tài chính đã tăng trưởng mạnh trong khoảng 15 - 16 năm qua. Tổng tài sản hệ thống ngân hàng, vốn hóa thị trường cổ phiếu, dư nợ thị trường trái phiếu và doanh thu bảo hiểm đều duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 16,5%/năm. Ngoài các kênh truyền thống, chuyên gia này cũng cho rằng còn nhiều nguồn lực tiềm năng khác cần được khai thác hiệu quả hơn như tài chính xanh quốc tế, thặng dư thương mại, dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI), kiều hối và du lịch…
Tương tự, chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trưởng ngành Quản trị kinh doanh, khoa Quản trị kinh doanh, Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM) phân tích: Quy mô GDP của VN năm 2025 ước khoảng 510 - 520 tỉ USD, tương đương gần 13 triệu tỉ đồng. Để duy trì tăng trưởng thực 8% mỗi năm, nền kinh tế thường cần tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức khoảng 33 - 35% GDP, có nghĩa nhu cầu vốn đầu tư hằng năm có thể lên tới 4,3 - 4,6 triệu tỉ đồng. Nếu mục tiêu tăng trưởng cao hơn, đạt mức hai con số, tỷ lệ đầu tư/GDP có thể phải lên mức 36 - 40%, tức nhu cầu vốn mỗi năm lên tới 4,7 - 5,2 triệu tỉ đồng. Đây là con số rất lớn, chưa bao gồm nhu cầu tái cấp vốn cho DN hiện hữu, xử lý nợ cũ và đầu tư chuyển đổi xanh, số hóa, hạ tầng chiến lược. Trong khi đó, cấu trúc tài chính VN hiện vẫn dựa nặng vào ngân hàng. Dư nợ tín dụng toàn hệ thống hiện đã vượt 15 triệu tỉ đồng và tương đương trên 135 - 140% GDP, thuộc nhóm cao trong khu vực đối với một nền kinh tế mới nổi.
"Điều này phản ánh rằng ngân hàng đang gánh vai trò cấp vốn gần như trung tâm cho DN ở hầu hết mọi lĩnh vực, từ bất động sản tới tiêu dùng, hạ tầng gián tiếp và cả vốn lưu động chuỗi cung ứng", ông Trần Anh Tùng nhận xét. Tuy nhiên, theo chuyên gia kinh tế này, tín dụng ngân hàng không thể tăng vô hạn. Nếu mỗi năm tín dụng tăng thêm 15 - 16%, hệ thống phải bơm mới khoảng 2,2 - 2,4 triệu tỉ đồng. Nếu đẩy lên 18 - 20% để kích tăng trưởng, con số vốn mới có thể vượt 2,7 - 3 triệu tỉ đồng, kéo theo áp lực lạm phát, tỷ giá, chất lượng tài sản và an toàn vốn ngân hàng.

Phát triển thị trường vốn dài hạn là cấp thiết. Trong ảnh là Trung tâm Tài chính quốc tế VN tại TP.Đà Nẵng, nằm trong Khu Công viên phần mềm số 2
ẢNH: MẠNH CƯỜNG
Nhìn sâu hơn một nấc, ở kỳ hạn vốn, tiền gửi của hệ thống ngân hàng VN chủ yếu là ngắn và trung hạn, phần lớn dưới 12 tháng. Song nhu cầu vay của nền kinh tế lại là dài hạn. Cao tốc, cảng biển, sân bay, năng lượng, khu công nghiệp, nhà ở đô thị, metro, chuyển đổi số DN… đều là dự án có vòng đời vốn kéo dài 5 - 20 năm. Nghĩa là hệ thống đang dùng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn. Đây là rủi ro lệch pha kỳ hạn kinh điển. Chỉ cần lãi suất huy động tăng hoặc người gửi dịch chuyển tiền sang kênh khác, ngân hàng sẽ chịu áp lực thanh khoản trong khi vốn đã "nằm" trong các khoản vay dài hạn khó thu hồi sớm. Nếu tiếp tục dùng tín dụng ngân hàng để tài trợ các dự án như vậy, nền kinh tế sẽ đối mặt rủi ro lệch pha kỳ hạn và chi phí vốn cao.
Yêu cầu cấp bách phát triển thị trường vốn
Từ những phân tích trên, chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng nhấn mạnh việc phát triển các kênh vốn như trái phiếu DN, cổ phiếu và quỹ đầu tư là yêu cầu bắt buộc nếu VN muốn duy trì tăng trưởng cao mà không tạo áp lực quá mức lên hệ thống ngân hàng.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nền kinh tế tăng trưởng bền vững đều dựa vào thị trường vốn mạnh. Đơn cử, tại Mỹ, DN huy động vốn chủ yếu qua thị trường cổ phiếu và trái phiếu, giúp các tập đoàn công nghệ như Apple, Microsoft, Amazon… mở rộng quy mô mà không phụ thuộc hoàn toàn vào ngân hàng. Tại Hàn Quốc, sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997, nước này đẩy mạnh thị trường trái phiếu DN để giảm lệ thuộc tín dụng ngân hàng và hỗ trợ công nghiệp hóa giai đoạn mới. Gần VN nhất, Singapore phát triển mạnh quỹ đầu tư, REIT (quỹ đầu tư tín thác bất động sản) và thị trường nợ để tài trợ bất động sản, logistics và hạ tầng khu vực.

VN cần phát triển thị trường vốn để tránh phụ thuộc vào kênh dẫn vốn ngân hàng
ẢNH: NGỌC THẮNG
"Có thể thấy những nền kinh tế đi lên bền vững đều không dựa độc canh vào tín dụng ngân hàng. Họ có thị trường cổ phiếu để DN tăng vốn chủ sở hữu; có thị trường trái phiếu để tài trợ đầu tư dài hạn; có quỹ hưu trí, bảo hiểm, quỹ đầu tư làm nhà đầu tư tổ chức và có hệ thống công bố thông tin đủ mạnh để giảm rủi ro niềm tin. Điều đó cũng cho thấy thị trường vốn chỉ phát triển thành công khi nó không phải một kênh riêng lẻ, mà là một hệ sinh thái có chiều sâu", ông Trần Anh Tùng chia sẻ thêm.
Theo PGS-TS Trần Hùng Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển công nghệ ngân hàng, Trường ĐH Kinh tế - Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM), để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao, VN không thể chỉ dựa vào một kênh dẫn vốn. Ở giai đoạn hiện nay, việc phát triển thị trường vốn đã trở thành yêu cầu cấp bách và là "ràng buộc chặt" đối với tăng trưởng bền vững. Cấu trúc tài chính của VN hiện quá phụ thuộc vào ngân hàng, điều này tiềm ẩn rủi ro lớn khi nợ xấu có xu hướng tăng. Thị trường vốn sẽ là nơi cung cấp nguồn vốn dài hạn thực sự cho các dự án hạ tầng và sản xuất lớn.
Dựa trên mô hình chẩn đoán tăng trưởng và phân tích thể chế từ nghiên cứu, ông Sơn đề xuất các nhóm giải pháp để phát triển thị trường vốn thành công. Đó là cần ổn định và minh bạch hóa khung pháp lý, tránh tình trạng thay đổi quy định quá nhanh và đột ngột sẽ làm suy giảm niềm tin và tăng chi phí giao dịch. Kế tiếp là cải thiện chất lượng thể chế như các chỉ số về kiểm soát tham nhũng, hiệu quả hệ thống tư pháp và pháp quyền của VN. Song song, phải giảm bất cân xứng thông tin thông qua việc thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và trung tâm cung cấp thông tin tín nhiệm. Điều này giúp nhà đầu tư có cơ sở đánh giá rủi ro chính xác hơn, thay vì đầu tư theo phong trào. Đồng thời tăng cường quản lý và giám sát thị trường, ngăn chặn các hành vi trục lợi, thiếu minh bạch trong phát hành trái phiếu; cuối cùng là đa dạng hóa tài sản thế chấp và cơ chế thi hành án như cần có quy định thông thoáng hơn cho phép DN sử dụng nhiều loại tài sản thế chấp và tăng hiệu quả thi hành án để các chủ nợ/nhà đầu tư yên tâm hơn khi rót vốn.
"Để thoát khỏi sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng và thúc đẩy tăng trưởng cao, VN bắt buộc phải cải thiện "chất lượng" của hệ thống pháp lý và tính minh bạch của thị trường tài chính", PGS-TS Trần Hùng Sơn nhấn mạnh.
Khơi thông thị trường vốn dài hạn
TS Cấn Văn Lực phân tích: Quy mô nguồn vốn cần thiết để phát triển kinh tế cao đặt ra không ít thách thức đối với khả năng huy động vốn của nền kinh tế. Vì vậy, VN cần đa dạng hóa các kênh dẫn vốn, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng thông qua phát triển thị trường chứng khoán, đặc biệt là trái phiếu, đồng thời lành mạnh hóa thị trường cổ phiếu và kiểm soát các hình thức đòn bẩy rủi ro cao. Bên cạnh đó, các kênh mới như trung tâm tài chính quốc tế, thị trường tài sản mã hóa và thị trường carbon được kỳ vọng có thể cải thiện tính thanh khoản và khả năng luân chuyển dòng vốn nếu được thiết kế và quản lý phù hợp.

Thị trường chứng khoán phát triển sẽ thúc đẩy một kênh dẫn vốn dài hạn cho nền kinh tế
ẢNH: NHẬT THỊNH
Theo TS Lực, cần đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, pháp lý (gồm quy định quản lý tài sản số, tiền kỹ thuật số, sàn vàng, vận hành hiệu quả trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng…). Tiếp tục triển khai giải pháp phát triển thị trường chứng khoán, đồng thời đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn DN nhà nước gắn với niêm yết nhằm tăng hàng hóa cho thị trường chứng khoán; phát triển nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp, tăng năng lực nhà đầu tư tổ chức (nhất là thị trường quỹ) và thị trường trái phiếu DN, tăng cường giáo dục tài chính và bảo vệ người tiêu dùng tài chính. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu thị trường, đẩy mạnh chuyển đổi số ngành chứng khoán, tăng cường quản lý rủi ro an ninh mạng, an toàn thông tin…
Đồng quan điểm, ông Trần Anh Tùng cho rằng bài toán tăng trưởng giai đoạn tới của VN không chỉ tìm thêm vốn, mà là đổi cấu trúc vốn. Để làm được điều này, VN cần tái lập niềm tin bằng chuẩn minh bạch và kỷ luật thị trường. Đây là điều kiện tiên quyết. Không có niềm tin thì không thể có thị trường vốn dài hạn. Muốn vậy, cần nâng chuẩn công bố thông tin của DN theo hướng thực chất hơn, không dừng ở báo cáo hình thức. Xếp hạng tín nhiệm cần trở thành công cụ phổ biến với các DN phát hành quy mô lớn, đặc biệt là trái phiếu. Kế đến, cần có một "xương sống" cho thị trường được hiểu như nhà đầu tư lớn và dài hạn. Muốn có vốn dài hạn, phải có người mua dài hạn. Điều này đòi hỏi phát triển mạnh quỹ hưu trí bổ sung, DN bảo hiểm, quỹ đầu tư trái phiếu, quỹ đầu tư hạ tầng, quỹ đầu tư tín thác bất động sản và các định chế đầu tư chuyên nghiệp khác.
"Đây là bài toán rất thực tế: Khi nền kinh tế cần vốn 5 - 10 - 20 năm, thì phải có khu vực sẵn sàng nắm giữ tài sản tài chính trong đúng khung thời gian đó. Nếu không xây được lớp nhà đầu tư này, trái phiếu DN sẽ luôn mong manh, cổ phiếu sẽ dễ đầu cơ ngắn hạn, còn DN vẫn quay lại gõ cửa ngân hàng. Nói ngắn gọn, phát triển thị trường vốn không chỉ là phát triển hàng hóa, mà phải phát triển cả "người mua" có khả năng nắm giữ dài hạn", ông Trần Anh Tùng lý giải.
Hướng cuối cùng là phải phân tầng thị trường vốn theo đúng nhu cầu của từng nhóm DN và từng loại dự án. DN lớn, có quản trị tốt, nên được khuyến khích huy động qua cổ phiếu, trái phiếu công chúng, hoặc trái phiếu riêng lẻ chuẩn hóa với yêu cầu cao. DN tăng trưởng, công nghệ, đổi mới sáng tạo cần cơ chế tiếp cận vốn cổ phần linh hoạt hơn, kể cả qua quỹ đầu tư mạo hiểm và sàn giao dịch phù hợp.
Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực
Để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho tăng trưởng cao, giải pháp then chốt trước hết là đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, đặc biệt sớm ban hành khung pháp lý cho các mô hình, lĩnh vực mới như thị trường carbon, sàn giao dịch hàng hóa, tài sản mã hóa, cũng như triển khai thực chất trung tâm tài chính quốc tế và nâng hạng thị trường chứng khoán. Cùng với đó, cần phát triển thị trường tài chính theo hướng cân bằng hơn, mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn theo nguyên tắc thị trường. Cần khơi thông các nguồn lực còn tồn đọng trong nền kinh tế, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa tiền tệ trong bối cảnh xuất hiện nhiều công cụ mới, đồng thời đầu tư sớm và bài bản cho con người, coi đây là trụ cột để phát triển kinh tế tri thức và nâng cao năng suất dài hạn. Dù còn nhiều thách thức, VN đang đứng trước những cơ hội phát triển chưa từng có. Đây là thời điểm để tất cả các bên cùng hành động và đóng góp cho "kỷ nguyên mới" của đất nước.
TS Cấn Văn Lực (chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ)
VN hiện có 4 nguồn vốn chính cần được chú trọng thu xếp
Đó là nguồn vốn từ thị trường vốn (cổ phiếu và trái phiếu), đây là nguồn vốn cực kỳ quan trọng để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Hiện nay, độ sâu của thị trường tài chính (vốn hóa thị trường/GDP) của VN vẫn nằm trong nhóm thấp so với các quốc gia so sánh. Việc phát triển kênh này sẽ cung cấp nguồn vốn dài hạn cho DN mà không làm gia tăng rủi ro hệ thống.
Thứ hai là nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng. Mặc dù tỷ lệ tín dụng/GDP của VN đã đạt mức rất cao (gần 150% vào năm 2025), đây vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng khi tỷ lệ này vượt ngưỡng 130%, nó có thể kìm hãm thay vì thúc đẩy tăng trưởng.
Thứ ba là nguồn vốn nội bộ của DN và tiết kiệm dân cư. Kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới cho thấy hơn 50% vốn đầu tư của DN hiện nay đến từ nguồn tự có. Đặc biệt, mức tiết kiệm của VN hiện đang lớn hơn đầu tư, cho thấy nguồn lực trong dân còn rất lớn. Thách thức là làm sao chuyển hóa lượng "tiết kiệm tiền tệ" này thành nguồn lực tài chính quốc gia thông qua các công cụ đầu tư dài hạn.
Cuối cùng, vốn FDI là yếu tố không thể thiếu để bổ sung nguồn lực và công nghệ.
PGS-TS Trần Hùng Sơn (Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển công nghệ ngân hàng, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM)
Bình luận (0)