Kiến nghị cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh mã số thuế 03, 06 nộp dần nợ thuế

Mai Phương
Mai Phương
Hội Tư vấn và Đại lý thuế TP.HCM vừa đề xuất nhiều chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế (doanh nghiệp, hộ kinh doanh) trạng thái 03, 06.

Cho phép doanh nghiệp, hộ kinh doanh nộp dần tiền thuế nợ gốc

Hội Tư vấn và Đại lý thuế TP.HCM vừa có văn bản góp ý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội và dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế (doanh nghiệp, hộ kinh doanh) trạng thái 03, 06. Hội thống nhất cao với sự cần thiết ban hành hai Nghị quyết khi đã nhận diện đúng điểm nghẽn cốt lõi: Chi phí và thủ tục để "rời khỏi thị trường" cao hơn nhiều so với "gia nhập thị trường", khiến nhiều người nộp thuế đã ngừng hoạt động trên thực tế lựa chọn bỏ địa chỉ thay vì làm thủ tục giải thể. Việc xóa nợ lệ phí môn bài, xóa có điều kiện tiền chậm nộp, miễn nộp hồ sơ khai thuế cho thời gian không hoạt động và giảm mức phạt theo lộ trình là các giải pháp phù hợp, có tính khuyến khích tự nguyện tuân thủ cao.

Trên tinh thần đó, Hội Tư vấn và Đại lý thuế TP.HCM tập trung kiến nghị theo ba nhóm nội dung. Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội cần hoàn thiện điều kiện, trình tự xóa nợ lệ phí môn bài và tiền chậm nộp để bảo đảm tính khả thi và tránh loại trừ quá rộng. Đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ, nên xem xét mở rộng hợp lý phạm vi miễn nộp hồ sơ khai thuế, làm rõ các quy định về xử phạt, chấm dứt hiệu lực mã số thuế và bảo vệ cá nhân bị giả mạo thông tin. Cuối cùng là tổ chức thực hiện, bảo đảm liên thông giữa hai Nghị quyết, bãi bỏ các yêu cầu thủ tục không cần thiết tại cơ sở, đồng thời tăng cường hàng rào phòng ngừa trục lợi chính sách.

Kiến nghị cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh mã số thuế 03, 06 nộp dần nợ thuế- Ảnh 1.

Đề xuất chính sách xử lý tình trạng doanh nghiệp, hộ kinh doanh mã số thuế 03, 06

ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Cụ thể, góp ý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, đối với phạm vi loại trừ và điều kiện xóa tiền chậm nộp, hội thống nhất đối với nguyên tắc chỉ xóa tiền chậm nộp khi người nộp thuế đã nộp đủ tiền thuế nợ gốc. Tuy nhiên, quy định loại trừ toàn bộ người nộp thuế có phát sinh hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nghĩa vụ thuế trong thời gian ở trạng thái 03, 06. Quy định này có thể loại trừ cả những trường hợp chỉ phát sinh giao dịch nhỏ lẻ, mang tính kết thúc hoạt động (thanh lý tài sản, thu hồi công nợ cũ) và doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã tự giác kê khai, nộp đủ thuế. Vì vậy, cần thu hẹp phạm vi loại trừ theo hướng chỉ loại trừ người nộp thuế có phát sinh hoạt động nhưng không kê khai, nộp thuế; hoặc chỉ không xóa phần tiền chậm nộp tương ứng với nghĩa vụ thuế phát sinh trong thời gian đó.

Đáng chú ý, văn bản kiến nghị đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh có số nợ gốc lớn nhưng có thiện chí khắc phục, đề nghị cho phép nộp dần tiền thuế nợ gốc theo pháp luật quản lý thuế trong thời hạn áp dụng Nghị quyết; tiền chậm nộp được xác định đến ngày nộp hồ sơ hợp lệ với có cam kết nộp dần và được xóa khi hoàn thành nộp đủ nợ gốc trước ngày 30.6.2028.

Cơ quan thuế tự động chấm dứt mã số thuế trạng thái 06 không hoạt động từ 5 năm trở lên

Trong nội dung góp ý đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ, Hội Tư vấn và Đại lý thuế TP.HCM đánh giá cao việc dự thảo miễn nộp hồ sơ khai thuế đối với kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ trong thời gian các doanh nghiệp, hộ kinh doanh không hoạt động. Tuy nhiên, khoản 1 điều 2 lấy mốc là thời điểm "theo thông báo của cơ quan thuế" về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, còn khoản 3 điều 2 yêu cầu nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế còn thiếu đối với các kỳ trước thời điểm này. Thực tế cho thấy, giữa thời điểm doanh nghiệp ngừng hoạt động trên thực tế và thời điểm cơ quan thuế ban hành thông báo trạng thái 06 thường có độ trễ từ một đến nhiều năm. Đây chính là hiện tượng người nộp thuế phải lập hàng loạt "tờ khai trắng" - không tạo ra thông tin có giá trị cho quản lý thuế nhưng làm phát sinh chi phí tuân thủ và khối lượng xử lý hồ sơ đáng kể cho chính cơ quan thuế. 

Trong khi đó, cơ quan thuế hiện đã có đầy đủ dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu kê khai và thông tin tài khoản ngân hàng để xác định người nộp thuế có phát sinh hoạt động hay không. Vì vậy, hội kiến nghị sửa đổi theo hướng người nộp thuế quy định tại Nghị quyết này không phải nộp hồ sơ khai thuế đối với kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế kể từ kỳ tính thuế tiếp theo kỳ tính thuế cuối cùng đã nộp, trên cơ sở cam kết của người nộp thuế và kết quả đối chiếu của cơ quan thuế với dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu quản lý thuế...

Trường hợp người nộp thuế bị thất lạc sổ sách kế toán, chứng từ, con dấu (khá phổ biến ở nhóm doanh nghiệp ngừng hoạt động trong và sau giai đoạn dịch Covid-19), cần bổ sung quy định cho phép cơ quan thuế căn cứ dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu kê khai và dữ liệu ngân hàng để xác định hoặc ấn định số thuế phải nộp đối với kỳ có phát sinh, kết hợp với bản cam kết tự chịu trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật, thay cho việc yêu cầu người nộp thuế phục dựng lại sổ sách kế toán.

Đồng thời, Chính phủ nên xem xét về quy định cơ chế cơ quan thuế chủ động chấm dứt hiệu lực mã số thuế sau 30 ngày công khai. Theo số liệu tại tờ trình, chỉ có 529.041 người nộp thuế trạng thái 06 không hoạt động trên 10 năm, chiếm khoảng 21% tổng số người nộp thuế trạng thái 03, 06; phạm vi này chưa đủ để tạo chuyển biến rõ rệt trước kỳ đánh giá năm 2028. Từ đó, hội đề xuất rút ngắn ngưỡng thời gian xuống từ đủ 5 năm trở lên (thay vì mức từ 10 năm trở lên như dự thảo). Mốc 5 năm phù hợp với khuyến nghị về việc hồ sơ kế toán phải sẵn có ít nhất 5 năm sau khi pháp nhân chấm dứt tồn tại. Bên cạnh đó, cần bổ sung cơ chế xử lý đối với trường hợp người đại diện theo pháp luật đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không thể liên hệ: cho phép thành viên, cổ đông, chủ sở hữu hoặc người thừa kế thực hiện thủ tục thay, hoặc cơ quan thuế chủ động áp dụng cơ chế tại khoản 5 Điều 4...

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.