Lê Minh Quốc 'nói có sách, mách có chứng' về tiếng Việt

Lê Công Sơn
Lê Công Sơn
Với tình yêu tiếng Việt tha thiết, nhà nghiên cứu - nhà thơ Lê Minh Quốc vừa ra mắt độc giả tác phẩm mới 'Tiếng Việt - từ lời ăn tiếng nói người Việt'. Ẩn trong lời ăn tiếng nói của người Việt hằng ngày, trong những câu tục ngữ ca dao, dưới góc nhìn của Lê Minh Quốc là cả một "kho" lịch sử và văn hóa.

Trong sách, tác giả đặt ra nhiều "câu hỏi ngược": Vì sao trong trường hợp đó, ngữ cảnh đó, ta lại dùng từ này chứ không phải từ kia? Vì sao phải nói đúng từ đó mới phản ánh hết tâm tư, tình cảm và suy nghĩ, phải nói đúng như thế mới là cách nói của người Việt?, rồi cùng người đọc cất công đi tìm câu trả lời.

Lê Minh Quốc 'nói có sách, mách có chứng' về tiếng Việt- Ảnh 1.

Sách do NXB Trẻ ấn hành

Ảnh: Q.TRÂN

Nhờ đó tác giả phát hiện ra, trải qua bao thăng của trầm lịch sử, bản thân tiếng Việt cũng thay đổi, có nhiều từ bị phai nghĩa theo năm tháng, trước khác nay đọc, nghe lại không còn rõ nghĩa; lại có những từ không chấp nhận "giậm chân tại chỗ", nay được hiểu sang nghĩa khác. Vốn từ tiếng Việt theo năm tháng cứ thế ngày một phong phú thêm.

Cuốn sách có 3 phần: Phần Nói có sách, mách có chứng bàn về những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ lâu nay ta vẫn sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày; Vài từ tiếng Việt miền Nam ông đi sâu khảo sát nhiều từ ngữ thuộc phương ngữ Nam bộ để hiểu rõ hơn về văn hóa, nếp sinh hoạt của người miền Nam xưa. Còn Chuyện cà kê lắt léo lại tìm hiểu một số từ ngữ và cách diễn đạt "dích dắc" trong lời ăn tiếng nói người Việt, trong đó có nhiều từ hiện vẫn còn hiểm hóc, đa nghĩa.

Với vốn tri thức rộng, những câu chuyện thú vị về lịch sử và văn hóa đã được Lê Minh Quốc dẫn giải đầy thú vị, như: "giấy rách giữ lấy lề" bằng việc tìm hiểu thêm nghề làm giấy cổ truyền qua các câu ca dao, câu thơ về nhịp chày "Yên Thái", qua tên gọi "làng nghè" và địa danh Cầu Giấy, hay qua tác phẩm Xác Ngọc Lam của Nguyễn Tuân. Ở một bài viết khác, "con cò xanh" hóa ra là con tem, và cách nói này gắn với lịch sử ngành bưu điện nước ta thuở ban đầu.

Các phương ngữ miền Nam tiếp tục được ông khám phá bằng ý nghĩa một số từ ngữ: "dỡ mắm", "lọ nồi", "tám hoánh", "xạo xự", "bỏ xừ", "ví dầu", "giồng"... hoặc những từ tưởng như ai cũng biết nghĩa, nhưng hóa ra vẫn còn nhiều nghĩa mà chúng ta chưa biết hết: "Cù lao" là gì ? "Liền anh liền chị" là sao? "Vợ tra" là như thế nào? "Trốc" là cái gì?… Tác giả còn thảo luận về cách viết đúng của những câu mà người ta hay lầm lẫn hoặc còn tranh cãi: "tai vách mạch rừng/dừng", "bát bể đánh con sao đành", "thuốc đắng dã tật"…

Đặc biệt trong mỗi từ, tác giả còn khéo léo đặt vào bối cảnh lịch sử và đời sống của vùng đất phương Nam xưa, nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về văn hóa, nếp nhà và sinh hoạt người Việt một thời.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.