Mô hình giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên thịnh vượng

Thúy Hằng
Thúy Hằng
12/02/2026 05:54 GMT+7

Trong các cuộc bàn luận về tương lai của một quốc gia, người ta thường nói về hạ tầng, công nghệ, tăng trưởng và một yếu tố có tính quyết định: giáo dục. Một hệ thống chỉ thực sự bước vào kỷ nguyên thịnh vượng khi giúp công dân nhìn xa hơn hiện tại của chính họ.

Chính vì thế, mô hình giáo dục tương lai không chỉ là câu chuyện chuyên môn mà còn là bài toán chiến lược quốc gia. Ông Lê Hoàng Phong, học giả Chevening, đang học thạc sĩ Lãnh đạo giáo dục tại Viện Giáo dục (Institute of Education), trực thuộc ĐH College London (UCL), Vương quốc Anh, chia sẻ một số góc nhìn của ông về mô hình giáo dục ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

 - Ảnh 1.

Giáo dục theo quan điểm mới là trao cho học sinh khả năng hình dung về nơi mình có thể đến, thay vì chỉ học cách đạt điểm số

ẢNH: NHẬT THỊNH

TRÍ TƯỞNG TƯỢNG - NĂNG LỰC NGƯỜI THẦY KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ĐỂ MẤT

"Tôi đến Oxford dự diễn đàn Rhodes về công nghệ và xã hội, mang theo một câu hỏi vẫn day dứt trong tôi từ nhiều năm dạy học, "khi công nghệ ngày càng thông minh hơn, con người có còn giữ được năng lực hình dung về chính tương lai của mình không?". Giữa những cuộc thảo luận tưởng chừng rất xa chuyện lớp học, có chia sẻ khiến tôi dừng lại thật lâu", ông Phong kể lại chuyến đi gần đây.

Trước hết, trong bài Morning Keynote, Jeremy Heimans, nhà chiến lược xã hội người Úc, tốt nghiệp ngành chính trị và luật tại ĐH Harvard (Mỹ), nói về tầm quan trọng của việc tưởng tượng và kiến tạo tương lai. Ông cho rằng, tưởng tượng tương lai không phải là hành động mơ hồ, mà là nền tảng để con người chủ động định hình thế giới mình muốn sống. Nếu chúng ta không hình dung được điều mình hướng tới, ta sẽ mãi bị cuốn theo những gì người khác tạo ra.

Tiếp đó, Brian Wyborn, nhà đầu tư bản địa Torres Strait và Papua New Guinea, nhấn mạnh rằng sự giàu có thật sự không chỉ nằm ở tài chính, mà ở việc trao lại cho con người năng lực định hình tương lai của chính mình. "You can't be what you can't see", tạm dịch "Con người không thể vươn tới điều mình chưa từng được nhìn thấy".

Những câu chuyện này đánh thức trong ông Phong hình ảnh những học trò của mình, những đứa trẻ mồ côi, hay những em lớn lên từ những miền quê nghèo xa xôi. Các em không thiếu ý chí, chỉ thiếu tầm nhìn về nơi mình có thể đến. Khi chưa từng được thấy ai giống mình bước ra và làm được điều lớn hơn, các em dễ tin rằng cuộc đời chỉ có chừng đó. Nếu trẻ em không được nhìn thấy thế giới rộng hơn, qua một cuốn sách, một người thầy, một tấm gương hay một cánh cửa được mở ra, chúng sẽ lớn lên với trí tưởng tượng nhỏ hơn chính khả năng của mình.

Ở Anh, nơi ông Phong đang học thạc sĩ, các cuộc cải cách giáo dục trong 20 năm qua xoay quanh câu hỏi "giáo viên (GV) có đủ quyền để thiết kế tương lai học tập cho học sinh (HS) hay không?" và năng lực tưởng tượng không phải khái niệm mơ hồ. Nó được cụ thể hóa thành chuẩn nghề nghiệp GV, có chương trình bồi dưỡng chuyên môn liên tục và cả cơ chế đánh giá của Ofsted. Nghĩa là tưởng tượng không phải "đặc tính cá nhân", mà là năng lực nghề nghiệp được hệ thống hóa.

Chính quan điểm này đang chi phối nhiều chương trình cải cách giáo dục tại Anh: trao cho HS khả năng hình dung về nơi mình có thể đến, thay vì chỉ học cách đạt điểm số. Từ chương trình quốc gia, đến chính sách bình đẳng cơ hội, mọi cải cách đều xoay quanh việc mở rộng biên độ tưởng tượng của trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

Việt Nam - đang trong giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ, có thể rút ra bài học cốt lõi rằng thịnh vượng chỉ bền vững khi năng lực tưởng tượng được phân bổ công bằng.

Ở Anh, các nỗ lực thu hẹp bất bình đẳng giáo dục đều bắt đầu từ một giả định rằng trẻ em không nghèo vì thiếu khả năng, mà vì thiếu cơ hội tiếp cận những "khung tưởng tượng" lớn hơn. Vì vậy, mọi chính sách đều hướng đến việc xây dựng môi trường học tập cho phép trẻ thấy xa hơn chính mình. Đây cũng là một câu chuyện Việt Nam có thể học hỏi.

 - Ảnh 2.

Các học giả Chevening cùng bà Halla Tómasdóttir, Tổng thống Iceland (thứ ba từ trái qua), trong một sự kiện

ẢNH: NVCC

"Giữa kỷ nguyên mà thuật toán có thể dự đoán mọi hành vi, tôi luôn luôn tin rằng, những người dẫn dắt thế hệ sau, từ thầy cô, cha mẹ đến những người cố vấn vẫn đang làm công việc mà không một hệ thống công nghệ nào có thể thay thế: giữ cho học trò khả năng nhìn xa", ông Phong khẳng định.

KỸ NĂNG QUAN TRỌNG NHẤT: DẠY HS CÁCH HỌC

Trong thực tế dạy học, nhiều GV đều gặp cùng một câu hỏi: Làm sao để HS không chỉ làm bài tốt trên lớp, mà còn biết tự học, tự theo dõi, tự điều chỉnh khi không có thầy cô bên cạnh? Đó chính là khoảng trống mà trường học nào cũng cảm nhận rõ nhưng chưa phải lúc nào cũng có công cụ để lấp đầy.

Ông Phong cho biết mới đây đã nghiên cứu báo cáo Metacognition and Self-Regulated Learning (tạm dịch: Tư duy siêu nhận thức và năng lực tự giám sát điều chỉnh việc học) của Education Endowment Foundation (EEF).

Tại Anh, việc GV dạy HS "cách học" là nhiệm vụ ưu tiên cấp hệ thống. Từ chương trình đào tạo GV ban đầu đến các chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc gia trình độ GV… đều xoay quanh mục tiêu giúp GV dạy HS "học cách học".

Ở Anh, EEF được xem như "la bàn khoa học" cho trường học, 70% các trường sử dụng báo cáo, tài liệu và bộ công cụ của tổ chức này để thiết kế bài dạy và can thiệp. Điều quan trọng không phải chỉ là kỹ thuật, mà là văn hóa: GV ra quyết định dựa trên bằng chứng, không dựa trên cảm tính. Và ở tầm trường học, EEF giúp đội ngũ GV có chung ngôn ngữ, chung tiêu chuẩn, và chung kỳ vọng về việc dạy HS "học cách học", năng lực mà bất kỳ hệ thống giáo dục tiên tiến nào cũng xem là nền móng cho thành công dài hạn. Đây là điều giáo dục Việt Nam hoàn toàn có thể học và áp dụng mà không cần đầu tư tốn kém.

"Ở những quốc gia đã cải cách thành công, thịnh vượng không đến từ việc dạy thêm thật nhiều kiến thức, mà từ việc trao cho HS năng lực tự mở đường. Công nghệ có thể giúp ta đi nhanh hơn, nhưng chỉ giáo dục mới quyết định ta đi về đâu. Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển lịch sử, và hệ thống giáo dục chỉ thực sự nắm bắt được thời cơ ấy khi nó giúp thế hệ trẻ nhìn xa hơn, mơ lớn hơn, và học một cách chủ động hơn", ông Lê Hoàng Phong khẳng định.

Top

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.