81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9 (1945 - 2026)

Những biểu tượng làm nên bản sắc Việt

Mỗi quốc gia đều có những biểu tượng để thế giới nhận diện và để chính người dân nhận ra mình trong dòng chảy lịch sử. Chỉ cần nhìn thấy tháp Eiffel là người ta nghĩ đến nước Pháp, hoa anh đào gợi nhớ Nhật Bản, lá phong gắn với Canada hay chuột túi trở thành hình ảnh của Úc.

Nhưng giá trị của biểu tượng chưa bao giờ chỉ dừng lại ở việc nhận diện. Một biểu tượng còn lưu giữ ký ức lịch sử, truyền tải văn hóa, quảng bá hình ảnh quốc gia và quan trọng hơn cả, tạo nên cảm giác con người đang thuộc về cùng một cộng đồng.

Từ cội nguồn văn minh đến biểu tượng dân tộc

Lịch sử là nơi sản sinh những biểu tượng có sức sống lâu bền nhất. Trong kho tàng di sản của dân tộc, trống đồng Đông Sơn được xem như biểu tượng tiêu biểu của nền văn minh Việt cổ. Không chỉ là hiện vật khảo cổ quý giá, trống đồng còn phản ánh trình độ luyện kim, tư duy mỹ thuật và đời sống tinh thần của cư dân Văn Lang - Âu Lạc cách đây hơn hai thiên niên kỷ. Những hoa văn khắc trên mặt trống kể câu chuyện về lao động, lễ hội, tín ngưỡng, chiến trận và khát vọng chinh phục thiên nhiên của cư dân nông nghiệp.

Những biểu tượng làm nên bản sắc Việt- Ảnh 1.

Hình tượng chim Lạc trên trống đồng Ngọc Lũ

ảnh: T.L

Nổi bật trên mặt trống là hình tượng chim Lạc với những cánh bay thanh thoát quanh mặt trời. Từ một mô típ nghệ thuật của thời đại Đông Sơn, chim Lạc đã vượt qua giới hạn của khảo cổ học để trở thành biểu tượng của sức sống, khát vọng vươn lên và tinh thần trường tồn của dân tộc VN. Cùng với chim Lạc là hình tượng rồng, gắn với truyền thuyết "Con Rồng cháu Tiên" - huyền thoại lý giải nguồn gốc cộng đồng người Việt.

Di sản nghìn năm trong diện mạo VN

Trải qua các triều đại, người Việt tiếp tục tạo dựng nên nhiều biểu tượng mang giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc. Thời Lý được xem là giai đoạn đỉnh cao của mỹ thuật Đại Việt, với đầu rồng thời Lý có dáng vẻ thanh thoát, mềm mại, uy nghi mà không dữ tợn, phản ánh tinh thần hòa hiếu và tư tưởng nhân văn của một quốc gia đang hưng thịnh. Cùng với đó, lá đề thời Lý - mô típ trang trí mang dấu ấn Phật giáo - trở thành biểu tượng của vẻ đẹp tinh tế trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc VN.

Nhiều công trình kiến trúc đã vượt khỏi giá trị của một di tích để trở thành hình ảnh nhận diện quốc gia. Chùa Một Cột tượng trưng cho trí tuệ và tinh thần Phật giáo VN; Hoàng thành Thăng Long lưu giữ dấu ấn của hơn một nghìn năm kinh đô; Tháp Rùa trở thành hình ảnh không thể tách rời với Hà Nội; Cố đô Huế phản ánh vẻ đẹp của văn hóa cung đình thời Nguyễn...

Ngày nay, những biểu tượng ấy đã bước ra khỏi không gian của bảo tàng và di tích để hiện diện trong đời sống đương đại. Từ tem bưu chính, tiền lưu niệm, quà tặng ngoại giao đến các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và thiết kế sáng tạo, chúng tiếp tục kể câu chuyện về lịch sử, văn hóa VN, đồng thời góp phần lan tỏa bản sắc dân tộc đến công chúng trong nước và bạn bè quốc tế.

Thiên nhiên, nơi nuôi dưỡng bản sắc Việt

Trải qua hàng nghìn năm gắn bó với nền văn minh lúa nước, người Việt đã gửi gắm những phẩm chất và khát vọng của mình vào các biểu tượng của tự nhiên. Cây tre tượng trưng cho sự bền bỉ, dẻo dai và ý chí kiên cường; từ truyền thuyết Thánh Gióng đến thơ ca, hội họa và âm nhạc, lũy tre xanh luôn hiện diện như hình ảnh của quê hương và tinh thần bất khuất. Cây lúa là biểu tượng của nền văn minh nông nghiệp, phản ánh lối sống cộng đồng và truyền thống cần cù của người Việt. Mỗi hạt gạo không chỉ kết tinh từ mồ hôi của người nông dân mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa, tình làng nghĩa xóm và triết lý ứng xử hài hòa với thiên nhiên đã được vun đắp qua nhiều thế hệ.

Hoa sen lại tượng trưng cho sự thanh khiết và nghị lực vươn lên. Từ kiến trúc Phật giáo, mỹ thuật, văn học đến các chương trình quảng bá quốc gia, hoa sen luôn hiện diện như hình ảnh của vẻ đẹp VN.

Tiếng Việt và hồn cốt văn hóa dân tộc

Trong tất cả những biểu tượng của VN, có lẽ tiếng Việt là biểu tượng đặc biệt nhất. Không được xây bằng gạch đá, không hiện hữu dưới hình hài của một hiện vật, tiếng Việt sống trong mỗi con người, trong lời ru của mẹ, trong câu ca dao, tiếng hò trên sông nước, tiếng mõ chùa, tiếng chày giã gạo, tiếng gọi nhau trên cánh đồng và những câu chuyện được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Những biểu tượng làm nên bản sắc Việt- Ảnh 2.

Truyện Kiều

ảnh: Trần Đình Ba

"Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa. Óng tre ngà và mềm mại như tơ". Chỉ hai câu thơ của Lưu Quang Vũ đã khắc họa vẻ đẹp của một ngôn ngữ được sinh ra từ đất đai và lao động, nhưng cũng được gọt giũa qua hàng nghìn năm lịch sử để trở thành một trong những ngôn ngữ giàu hình ảnh và giàu nhạc điệu. Tiếng Việt có thể mộc mạc như lời mẹ ru con, có thể sâu lắng như câu ca dao, có thể hào sảng trong những bản hùng ca giữ nước, nhưng cũng có thể tinh tế đến mức chỉ một dấu huyền, dấu hỏi hay dấu ngã cũng tạo nên những tầng nghĩa khác nhau.

Những biểu tượng làm nên bản sắc Việt- Ảnh 3.

Phở, một lát cắt của văn hóa ẩm thực Việt

ảnh: Ngọc Dương

Vẻ đẹp của tiếng Việt được kết tinh rực rỡ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Truyện Kiều đã đưa tiếng Việt đạt đến một đỉnh cao về nghệ thuật biểu đạt, nơi ngôn từ vừa giàu nhạc điệu, vừa tinh tế trong diễn tả tâm lý và số phận con người. Hiếm có tác phẩm nào thấm sâu vào đời sống văn hóa như Truyện Kiều: từ tục lẩy Kiều, bói Kiều, ngâm Kiều đến việc sử dụng những câu Kiều trong giao tiếp hằng ngày, kiệt tác của Nguyễn Du đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một tác phẩm văn học để trở thành một biểu tượng văn hóa của dân tộc. Cũng bởi vậy, khi Phạm Duy viết trong ca khúc Tình ca: "Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời..." hay "Một yêu câu hát Truyện Kiều...", qua những ca từ ấy, vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ được tôn vinh như một di sản văn hóa kết tinh lịch sử, tâm hồn và cốt cách của dân tộc VN qua nhiều thế kỷ.

Biểu tượng sống cùng thời đại

Ngày nay, nhiều biểu tượng VN đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia để trở thành những "đại sứ văn hóa" trên trường quốc tế. Áo dài xuất hiện trong các sự kiện ngoại giao, tuần lễ thời trang và những cuộc thi sắc đẹp; phở, bánh mì, nem chua hay cà phê VN đã trở thành những món ăn quen thuộc ở nhiều quốc gia. Không ít tên gọi tiếng Việt như pho, banh mi hay ao dai đã được đưa nguyên dạng vào các từ điển tiếng nước ngoài, cho thấy những khái niệm ấy đã vượt qua rào cản ngôn ngữ để trở thành một phần trong vốn từ quốc tế.

Những biểu tượng làm nên bản sắc Việt- Ảnh 4.

Các bạn trẻ mặc áo dài ở công viên Bến Bạch Đằng, TP.HCM dịp kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất (30.4.1975 - 30.4.2025)

ảnh: Hà Đăng

Biểu tượng không tự tồn tại cùng thời gian mà sống nhờ sự tiếp nối của cộng đồng. Một biểu tượng chỉ thực sự có sức sống khi liên tục được nghiên cứu, diễn giải, sáng tạo và đưa vào đời sống đương đại. Nếu khoa học giúp làm sáng tỏ nguồn gốc và giá trị của các biểu tượng, thì giáo dục giúp truyền trao chúng cho thế hệ sau. Đồng thời văn học, nghệ thuật, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, du lịch và các nền tảng số mở ra những cách thể hiện mới, đưa những biểu tượng truyền thống đến gần hơn với công chúng trong nước và quốc tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, mỗi thế hệ đều góp phần viết tiếp câu chuyện của các biểu tượng theo ngôn ngữ của thời đại mình. Những công trình nghiên cứu về văn hóa Việt, những sản phẩm sáng tạo lấy cảm hứng từ chim Lạc, trống đồng, áo dài hay Truyện Kiều, cùng với sự lan tỏa của cộng đồng người Việt ở nước ngoài, đều góp phần làm giàu thêm giá trị của các biểu tượng dân tộc. Nhờ đó, các biểu tượng được gìn giữ như những di sản của quá khứ, đồng thời tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại, trở thành nguồn lực văn hóa và sức mạnh mềm của quốc gia trên hành trình hội nhập.

Không chỉ là biểu tượng, mà là sự thuộc về

Kho tàng biểu tượng của VN giống như một bức tranh ghép được tạo nên từ vô vàn mảnh màu khác nhau. Mỗi mảnh ghép đều góp phần làm nên diện mạo dân tộc, nhưng không mảnh ghép nào, đứng một mình, có thể phản chiếu toàn bộ bản sắc VN.

Trống đồng Đông Sơn là dấu ấn của cội nguồn nhưng không thể nói hết một VN hiện đại đang hội nhập và đổi mới. Hoa sen biểu trưng cho sự thanh khiết nhưng không thể bao quát sự phong phú của 54 nền văn hóa dân tộc. Áo dài là niềm tự hào của người Việt nhưng không phải trang phục truyền thống của mọi cộng đồng. Phở được thế giới biết đến rộng rãi nhưng cũng chỉ phản ánh một lát cắt của văn hóa ẩm thực. Ngay cả tiếng Việt - một trong những sợi dây gắn kết mạnh mẽ nhất của dân tộc - cũng không còn là ngôn ngữ sử dụng hằng ngày của nhiều thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên ở nước ngoài.

Trên đất nước VN là sự cộng cư của 54 dân tộc anh em với nhiều ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục và không gian văn hóa khác nhau. Ngoài biên giới, hàng triệu người Việt đang sinh sống ở khắp năm châu; có người đã mang quốc tịch khác, có người chỉ còn nói được vài câu tiếng mẹ đẻ, có những thế hệ chưa từng một lần đặt chân lên quê hương của cha ông. Điều ấy được thể hiện rõ trong ca khúc Hello Vietnam, kể về tâm trạng của một người con gốc Việt lớn lên ở nước ngoài. Nhân vật trữ tình tha thiết được nghe kể về "cái tên khó phát âm" mà mình mang từ khi chào đời, về lịch sử lâu đời của quê hương và cội nguồn dân tộc. Dù mang ngoại hình của một người Việt, cô thừa nhận tất cả những gì mình biết về VN chỉ là "những hình ảnh của chiến tranh, và tiếng trực thăng gầm rú". Chính sự thiếu vắng những biểu tượng văn hóa trong ký ức đã thôi thúc hành trình đi tìm quê hương, để rồi nhận ra rằng điều mình tìm kiếm không đơn thuần là một vùng đất, mà là cảm giác được thuộc về một cộng đồng có chung lịch sử và bản sắc.

Nếu cố gắng tìm một hình ảnh duy nhất để đại diện cho tất cả, có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ có được một đáp án trọn vẹn. Điều đó gợi ra một cách nhìn khác về biểu tượng. Giá trị lớn nhất của biểu tượng không nằm ở việc đại diện cho toàn bộ dân tộc, mà ở khả năng tạo nên cảm giác thuộc về. Một bát phở không chỉ là một món ăn. Một tà áo dài không chỉ là một bộ trang phục. Một con chim Lạc không chỉ là họa tiết trên mặt trống đồng. Chúng chỉ thực sự trở thành biểu tượng khi giúp con người nhận ra mình là một phần của một cộng đồng lớn hơn bản thân.

Chúng ta không cùng lớn lên dưới một mái đình, không cùng nói một phương ngữ, không cùng lưu giữ những ký ức giống nhau và cũng không nhất thiết cùng lựa chọn một biểu tượng để gửi gắm tình yêu đất nước. Điều gắn kết người Việt chưa bao giờ chỉ là một hình ảnh, một món ăn, một trang phục hay một địa danh cụ thể. Đó là niềm tin rằng, giữa vô vàn khác biệt, vẫn tồn tại một cội nguồn chung, "cùng có chung tên gọi VN". Chính niềm tin ấy khiến những con người chưa từng gặp gỡ có thể nhận ra nhau, tin cậy nhau, nâng đỡ nhau trong lúc khó khăn và gọi nhau bằng hai tiếng giản dị mà thiêng liêng: ĐỒNG BÀO.

Có lẽ, hành trình đi tìm biểu tượng VN không nhằm tìm ra một hình ảnh duy nhất đại diện cho dân tộc. Không một biểu tượng nào có thể kể trọn vẹn câu chuyện của VN, nhưng mỗi biểu tượng đều lưu giữ một phần lịch sử, văn hóa, con người và khát vọng của đất nước.

Từ Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca đến trống đồng, chim Lạc, áo dài, tiếng Việt, cây tre, hoa sen hay những di sản văn hóa, tất cả hợp thành một hệ thống biểu tượng đa dạng, góp phần gìn giữ bản sắc, quảng bá hình ảnh VN và kết nối các thế hệ người Việt trong và ngoài nước. Giá trị lớn nhất của những biểu tượng ấy nằm ở khả năng kết nối. Chúng giúp thế giới nhận diện VN, đồng thời giúp người Việt ở mọi miền, trong nước cũng như ngoài nước, nhận ra nhau qua một cội nguồn, một bản sắc và một niềm tự hào chung. Có lẽ, đó chính là sức sống bền vững của mọi biểu tượng dân tộc.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.