Một lần dịch sách mở ra hành trình du học Ấn Độ
Sinh năm 1967 tại Huế, trong một gia đình có truyền thống Phật giáo, ni sư Thích Nữ Liễu Pháp tham gia sinh hoạt gia đình phật tử từ nhỏ. Thế nhưng, khi ấy ni sư chưa từng nghĩ có ngày mình sẽ xuất gia.
"Tôi thích đời sống tự do, phóng khoáng, còn xuất gia thì nhiều giới luật, khắt khe, sợ mình tu không hợp", ni sư nhớ lại rồi bật cười.

Ni sư Liễu Pháp là 1 trong 4 tỳ kheo ni Nam tông đầu tiên của Việt Nam
ẢNH: TUỆ TÂM
Suy nghĩ ấy dần thay đổi khi ni sư có cơ duyên gặp hòa thượng Thích Thái Hòa - vị thầy sống nghiêm trì giới luật nhưng vẫn ung dung, tự tại. Điều đó khiến ni sư nhận ra rằng tự do không đơn thuần là được làm những gì mình thích, mà còn là khả năng làm chủ bản thân, không bị những ham muốn và phiền não chi phối.
Tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Anh tại Huế, ni sư từng dự định trở thành giáo viên. Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu Phật pháp, ni sư bắt đầu suy nghĩ sâu hơn về ý nghĩa của việc giáo dục. Nếu dạy tiếng Anh giúp người học có thêm kiến thức và phương tiện giao tiếp, thì giảng dạy Phật pháp còn có thể giúp con người hiểu chính mình, chuyển hóa những khổ đau và thay đổi cách sống.
Từ đó, ni sư nảy sinh ước nguyện được học hỏi và chia sẻ Phật pháp với người khác. Nhưng ni sư cũng nhận ra rằng, muốn hướng dẫn người khác trên con đường tu tập, trước hết bản thân phải thực sự bước đi trên con đường ấy. Chính nhận thức này đã đưa ni sư đến quyết định xuất gia.
"Nghĩ vậy là sư cô đi tu thôi đó", ni sư Liễu Pháp kể giản dị về bước ngoặt của cuộc đời mình.
Dù vậy, gia đình ban đầu không dễ chấp thuận. Ni sư đã phải nhiều lần thuyết phục mới nhận được sự đồng ý của người thân.

Ni sư Liễu Pháp là đệ tử của trưởng lão hòa thượng Viên Minh, Phó pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam
ẢNH: NVCC
Sau 3 năm tu học Bắc tông tại Huế, hai cuốn sách "Lá thư thầy" và "Vi tiếu" của trưởng lão hòa thượng Viên Minh đưa ni sư đến với Phật giáo Nam tông. Cuối năm 1993, ni sư vào chùa Bửu Long tu học, chấp nhận đời sống tu nữ thọ tám giới, mặc y trắng.
Năm 1996, hòa thượng Bửu Chánh, người từng du học Ấn Độ, đến chùa Bửu Long thăm trưởng lão hòa thượng Viên Minh, mang theo một cuốn sách tiếng Anh về Tứ niệm xứ.
Tình cờ lên dâng nước, ni sư Liễu Pháp được giới thiệu là người tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Anh. Hòa thượng Bửu Chánh liền đưa sách, đề nghị dịch thử một đoạn. Nghe xong, hòa thượng nhận xét nếu chỉ học trong nước thì uổng khả năng, đồng thời ngỏ ý giúp ni sư sang Ấn Độ du học.
"Trước đó tôi không hề biết chuyện đi du học, vì thời ấy không có internet, thông tin rất hạn chế. Nhân duyên là gặp sư Bửu Chánh đó", ni sư nhớ lại.

Ni sư Liễu Pháp tham dự lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam sáng 6.11
ẢNH: NHẬT THỊNH
Năm 1998, ni sư sang Ấn Độ. Dù được các vị sư đi trước giúp đỡ, cuộc sống nơi đất khách vẫn không dễ dàng với người vốn quen có gia đình, huynh đệ bên cạnh.
"Lần đầu tiên trong đời tôi ăn một mình, ở một mình. Có lần ăn cơm mà nước mắt chảy vì nhớ chùa quá, nhớ đất nước mình", ni sư kể.
Những đêm giao thừa, ni sư phải xếp hàng ở bốt điện thoại công cộng để gọi về Việt Nam chúc tết thầy. Dẫu vậy, ni sư chưa từng nghĩ đến chuyện bỏ học.
Nhờ nền tảng tiếng Anh, tiếng Pāli và chữ Hán, ni sư thuận lợi tiếp cận kinh điển. Sau khi hoàn thành chương trình thạc sĩ, ni sư được giao dạy tiếng Pāli bằng tiếng Anh cho sinh viên cao học. Thời máy tính chưa phổ biến, nhiều nội dung phải chép từng dòng lên bảng, tra cứu và ghi nhớ tài liệu.

Trở về sau hành trình du học, ni sư Liễu Pháp được trưởng lão hòa thượng Viên Minh giao trụ trì ni viện Viên Không
ẢNH: NVCC
Theo ni sư, học phí chương trình tiến sĩ 5 năm khi ấy khoảng 600 USD, sinh hoạt phí khoảng 150 USD/tháng. Ngoài giờ học, ni sư còn viết tham luận, tham dự các hội thảo Phật học quốc tế.
Trong thời gian du học, ni sư từng tham gia khóa thiền Vipassana 10 ngày tại Ấn Độ, có những khóa quy tụ khoảng 1.000 người thuộc nhiều tôn giáo. Người tham dự được ăn ở miễn phí nhưng phải giữ im lặng, không giao tiếp, hành thiền từ 4 giờ sáng đến 22 giờ.
Cũng tại Ấn Độ, một cuộc gặp khác đã mở ra bước ngoặt trong đời sống tu hành của ni sư.
Năm 2000, tại hội nghị nữ giới Phật giáo quốc tế ở Lâm Tỳ Ni, ni sư bất ngờ nhìn thấy những vị ni Sri Lanka đắp y, mang bát như chư tăng Nam tông.
"Ồ, Nam tông cũng có tỳ kheo ni!", ni sư nhớ lại.

Ni sư hiện là Phó trưởng khoa Anh văn Phật pháp của Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM
ẢNH: NVCC
Tìm hiểu thêm, ni sư biết truyền thống tỳ kheo ni Theravāda được tái lập tại Sarnath (Ấn Độ) năm 1996. Đến năm 2002, được hòa thượng Viên Minh cho phép tự quyết định, ni sư cùng ba vị Như Liên, Tịnh Nguyên và Huệ Minh sang Sri Lanka thọ giới.
Theo lời ni sư, đây là nhóm 4 tỳ kheo ni Nam tông đầu tiên của Việt Nam trong giai đoạn ấy.
Ni sư Liễu Pháp học tiến sĩ để hiểu những phiền não trong mỗi người
Sau hai chương trình học ở bậc thạc sĩ, ni sư tiếp tục nghiên cứu tiến sĩ vì muốn tìm hiểu sâu hơn về Phật học. Năm 2013, ni sư bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Đại học Delhi (Ấn Độ).
Đề tài tiến sĩ của ni sư tập trung nghiên cứu Anusaya (tùy miên), tức những khuynh hướng phiền não tiềm ẩn sâu trong tâm thức con người, đồng thời đối chiếu với một số quan điểm trong phân tâm học của Sigmund Freud.
Theo ni sư, trong giáo lý Phật giáo, phiền não không chỉ là những biểu hiện dễ nhận thấy như tham lam, sân hận hay si mê, mà còn tồn tại dưới dạng những khuynh hướng ngủ ngầm. Khi chưa gặp điều kiện thích hợp, chúng có thể không biểu hiện, khiến con người lầm tưởng rằng mình đã hoàn toàn vượt qua được chúng.

Ni sư Liễu Pháp đảnh lễ trưởng lão hòa thượng Giới Đức
ẢNH: NVCC
Điểm đáng chú ý của đề tài là sự tiếp cận từ hai góc nhìn: Phật học phân tích nguồn gốc và sự vận hành của phiền não nhằm hướng đến chuyển hóa và giải thoát, trong khi phân tâm học Freud tìm hiểu những động lực vô thức ảnh hưởng đến hành vi con người. Tuy có những điểm gợi mở cho việc đối chiếu, hai hệ thống không hoàn toàn tương đồng về phương pháp và mục đích.
Với ni sư, nghiên cứu tùy miên không chỉ là một vấn đề học thuật, mà còn giúp hiểu rõ hơn những gì đang âm thầm chi phối đời sống nội tâm của mỗi người.
"Ở trong trường thiền thấy mình không sân với ai, tưởng mình thành thánh rồi. Nhưng không phải đâu, vì chưa ai chọc đó. Cần có ai chọc một cái là nó trồi lên", ni sư nói.
Những phiền não ấy không phải lúc nào cũng biểu hiện ra ngoài. Chúng có thể âm thầm tồn tại, chỉ bộc lộ khi con người gặp hoàn cảnh tác động. Đây cũng là điều ni sư chú trọng khi giảng dạy, hướng dẫn tăng ni sinh tu tập.


Ni sư Liễu Pháp cùng chư ni tại ni viện tự viết thư pháp trang trí trong các hoạt động
ẢNH: NVCC
Chẳng hạn, khi nói về việc giữ gìn giới luật, ni sư ví những tình cảm dễ phát sinh trong môi trường tu học như chiếc đinh và cục nam châm. Khi đã lọt vào từ trường, chiếc đinh khó cưỡng lại lực hút, vì vậy phải biết giữ khoảng cách từ trước.
Ni sư cũng khuyên người xuất gia cần thành thật với chính mình: nếu chọn đời sống tu hành thì giữ giới luật, còn muốn lập gia đình nên lựa chọn con đường ấy một cách rõ ràng.
Điều thú vị là người từng sợ đời sống xuất gia vì nhiều giới luật, nay lại dành thời gian hướng dẫn thế hệ trẻ hiểu và thực hành những giới luật ấy.
Khi được hỏi cảm giác lúc bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, ni sư không nói nhiều về niềm vui nhận học vị. "Tôi có cảm giác như đặt một gánh nặng xuống. Nhưng đặt gánh nặng này xuống thì nâng gánh nặng khác lên", ni sư chia sẻ.



Ni sư tham gia giảng pháp tại các chùa
ẢNH: NVCC, TUỆ TÂM
Theo ni sư, học tiến sĩ là nghiên cứu chuyên sâu một vấn đề, không có nghĩa người có bằng tiến sĩ hiểu biết tất cả. Điều quan trọng hơn là đem những điều đã học vào thực tế.
Trở về Việt Nam, ni sư tiếp tục giảng dạy, đảm nhận công việc tại ni viện Viên Không. Từng được nhiều người nâng đỡ để có cơ hội du học, ni sư muốn tạo điều kiện cho thế hệ ni trẻ tiếp tục con đường học tập.
Nhớ lại thời chuẩn bị sang Ấn Độ, ni sư kể phải đến lần thứ ba mới làm được hộ chiếu, kinh phí học tập cũng nhờ thầy vận động phật tử hỗ trợ. Những khó khăn ấy khiến ni sư càng muốn giúp người đi sau có thêm cơ hội học hành.
Hiện ni viện Viên Không có khoảng 50 vị ni, trong đó 17 vị đang du học tại Ấn Độ, Sri Lanka và Myanmar.
Bên cạnh Phật học, ni sư khuyến khích các ni học ngoại ngữ, tâm lý và các kỹ năng cần thiết. Bản thân ni sư vẫn giữ thói quen đọc, dịch sách đến khuya, tìm hiểu AI để hỗ trợ giảng dạy và duy trì lớp thiền trực tuyến hơn 300 người tham gia.

Ni sư cùng thầy Đồng Đắc dịch cabin tại đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2025
ẢNH: NVCC
Theo ni sư, học trực tiếp với thầy vẫn quan trọng vì còn được học từ cách sống, ứng xử của thầy. Tuy nhiên, hình thức trực tuyến giúp những người ở xa có thêm cơ hội tu tập.
Nhìn lại hành trình từ cô gái Huế từng thích cuộc sống tự do đến người dành nhiều năm nghiên cứu Phật học tại Ấn Độ, ni sư không xem học vị tiến sĩ là đích đến cuối cùng. "Người học tiến sĩ chưa chắc đã giỏi, nhưng chắc chắn là người ham học", ni sư đúc kết.
Gần 30 năm trước, một lần tình cờ dịch sách đã mở đường cho ni sư Liễu Pháp sang Ấn Độ. Giờ đây, từ ni viện Viên Không, 17 ni trẻ đang tiếp tục hành trình học tập ở nước ngoài, nối dài con đường mà ni sư từng đi qua.

Ni sư hiện là Phó trưởng khoa Anh văn Phật pháp ở Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM
ẢNH: NHẬT THỊNH
Ni sư Thích Nữ Liễu Pháp và hành trình tu học
Ni sư Thích Nữ Liễu Pháp (Bhikkhuni Viditadhammā), sinh năm 1967 tại Huế, xuất gia năm 1991, chuyển sang tu học Phật giáo Nam tông năm 1993. Năm 2002, ni sư thọ giới tỳ kheo ni tại Sri Lanka.
Năm 1998, ni sư sang Ấn Độ du học, hoàn thành hai chương trình thạc sĩ và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Phật học năm 2013 tại Đại học Delhi.
Hiện ni sư là trụ trì ni viện Viên Không, đồng thời tham gia giảng dạy, nghiên cứu, dịch thuật và hướng dẫn tu tập. Ni sư hiện là Phó trưởng khoa Anh văn Phật pháp ở Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM.









Bình luận (0)