Càng thay đổi lớn, càng cần hỏi: những quyết định hôm nay sẽ mở đường hay trở thành "nút thắt" của đại học (ĐH) trong 10, 20 năm tới?
Một chương trình đào tạo có thể chỉnh sửa sau vài khóa nhưng cấu trúc quản trị, cơ chế tài chính hay mô hình tổ chức khi đã áp dụng rộng thì rất khó đảo ngược. Cải cách vì thế phải xử lý vấn đề hiện tại mà vẫn giữ dư địa cho những thay đổi chưa thể dự báo hết.
Hai sức ép cùng lúc
ĐH VN đang đối mặt với nguồn lực phân tán, chất lượng không đồng đều, có cơ sở khó tuyển sinh, ngành đào tạo trùng lặp, nghiên cứu còn mỏng. Bài học từ những lần nhập rồi lại tách cho thấy, sáp nhập hành chính không tự tạo ra sức mạnh học thuật nếu quản trị vẫn cồng kềnh và các đơn vị thiếu gắn kết. Cuộc sắp xếp lần này vì thế không thể chỉ giảm số pháp nhân, mà phải làm cho nguồn lực được sử dụng tốt hơn và năng lực học thuật tăng lên.

Giáo dục đại học đang trong giai đoạn sắp xếp, đổi mới để phát triển mạnh hơn
ẢNH: NHẬT THỊNH
Trong khi đó, mô hình ĐH đang dịch chuyển. Trí tuệ nhân tạo (AI) thay đổi cách học và làm việc; người lao động phải học lại nhiều lần; chương trình ngắn và chứng chỉ năng lực ngày càng phát triển. VN vì thế phải xử lý bất cập hôm nay nhưng không khóa chặt khả năng thay đổi của ngày mai.
Sắp xếp mạng lưới không nên chỉ nhìn vào khu vực công lập. Trên cùng một địa bàn, nếu trường tư thục đã đào tạo tốt một số ngành, có đội ngũ và cơ sở vật chất phù hợp, không nhất thiết trường công phải tiếp tục đầu tư dàn trải để làm lại cùng việc đó. Nguồn lực nhà nước nên tập trung hơn cho khoa học cơ bản, các ngành chiến lược, công nghệ cao và những lĩnh vực thị trường khó tự đáp ứng.
Trường tư cũng không thể được giữ lại bằng mọi giá. Cơ sở không bảo đảm chất lượng phải thu hẹp ngành hoặc rút khỏi thị trường. Hạ tầng nghiên cứu đắt đỏ cũng nên được dùng chung khi có thể. Mục tiêu là để nguồn lực công và tư bổ sung cho nhau, cạnh tranh lành mạnh và cùng chịu trách nhiệm về chất lượng. Sắp xếp, xét cho cùng, phải là phân vai lại để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống.
Với những trường từng "kiễng chân" lên ĐH nhưng nhiều năm khó tuyển sinh, đội ngũ và nghiên cứu hạn chế, sáp nhập chưa chắc giúp hệ thống mạnh hơn. Hợp nhất chỉ tạo sức mạnh khi kết nối được con người, tài chính, cơ sở vật chất và quản trị; nếu chỉ cộng đất đai và đầu mối, trường yếu có thể mang cả điểm yếu vào trường mới. Có trường hợp nên xem lại sứ mạng, thậm chí trở lại đào tạo cao đẳng hoặc lĩnh vực thực hành thị trường cần.
Trao cho trường dư địa tổ chức và sử dụng nguồn lực phù hợp
Không phải mọi thứ đều cần được quy định với cùng mức độ cứng. Những nguyên tắc về chất lượng tối thiểu, trách nhiệm giải trình, quyền lợi người học, liêm chính học thuật, minh bạch tài chính và năng lực đội ngũ phải rõ. Tuy nhiên, cần có dư địa để một trường tổ chức nhằm đạt kết quả đó theo cách của mình. ĐH nghiên cứu không nhất thiết vận hành như trường định hướng ứng dụng. Vì thế chuẩn đặt ra chỉ nên là "mặt sàn", không phải chiếc khuôn buộc các trường giống nhau.
Nghị định 334/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 5.10.2026 đã tạo khung pháp lý rõ hơn khi quy định quyền tự chủ về đào tạo, khoa học công nghệ, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và đầu tư đồng thời gắn tự chủ với trách nhiệm giải trình, công khai và bảo đảm chất lượng. Nghị định cũng đặt nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong tiếp cận chính sách và nguồn lực nhà nước. Đây là cơ sở để sắp xếp không chỉ dừng ở thay đổi đầu mối mà trao cho các trường dư địa tổ chức và sử dụng nguồn lực phù hợp với sứ mạng.
Vì thế, chính sách nên tăng yêu cầu đối với kết quả nhưng thận trọng khi quy định quá chi tiết cách thức. Cái gì chưa rõ có thể thí điểm, đánh giá bằng dữ liệu rồi mới mở rộng. Chính sách tốt không phải là đoán đúng tương lai mà là còn khả năng điều chỉnh khi thực tế diễn ra khác dự tính.

Bộ GD-ĐT cũng nêu đề xuất đối với Chính phủ về việc lựa chọn các cơ sở giáo dục ĐH giàu tiềm năng để trao quyền tự chủ cao hơn, giao nhiệm vụ lớn hơn nhằm xây dựng các mô hình ĐH tinh hoa, ĐH trọng điểm xuất sắc ngang tầm quốc tế
ảnh: Nhật Thịnh
AI và một ĐH linh hoạt hơn
Nếu AI có thể làm khá tốt bài luận, báo cáo hay viết code… thì những hình thức đánh giá lâu nay còn đo đúng năng lực người học không? Trước thực tế đó, các trường cần tăng những tình huống buộc sinh viên giải thích lựa chọn, bảo vệ lập luận, xử lý dữ liệu thật và chịu trách nhiệm về kết quả. AI có thể hỗ trợ nhưng không thể học thay người học.
Người học tương lai của trường ĐH cũng không chỉ là thanh niên vừa tốt nghiệp phổ thông. Một kỹ sư có thể cần quay lại học AI; một người trung niên có thể phải chuyển nghề. Các trường vì thế cần nghĩ lại chương trình theo mô đun, công nhận kết quả học tập trước đó, tích lũy tín chỉ linh hoạt và cho phép người học ra - vào hệ thống nhiều lần.
Do đó, cải cách giáo dục ĐH không thể chờ đến khi nhìn rõ tương lai nhưng cũng không nên vì cần hành động nhanh mà cố định quá sớm một mô hình. Với mỗi quyết định lớn, nên hỏi giải quyết vấn đề hôm nay thế nào, và để lại bao nhiêu khả năng lựa chọn cho ngày mai.
Có những việc nên làm nhanh như nâng chất lượng đội ngũ, minh bạch dữ liệu, bảo đảm liêm chính học thuật, tăng liên kết và đánh giá người học theo năng lực thực. Tuy nhiên, với những quyết định có chi phí đảo ngược lớn thì cần thận trọng và trong trường hợp này, thận trọng không có nghĩa là chậm cải cách.
Cải cách tốt là tạo ra một hệ thống đủ vững cho hiện tại nhưng cũng đủ linh hoạt để tự thay đổi khi tương lai không diễn ra như dự tính. Đừng để những giải pháp của hôm nay trở thành "nút thắt" của ĐH ngày mai.
Đầu tư phát triển có trọng điểm
Tại Hội nghị giáo dục đại học năm 2026 diễn ra đầu tháng 10 ở TP.HCM, Bộ GD-ĐT đã có những thông tin về định hướng mạng lưới ĐH.
Theo đó, mạng lưới cơ sở giáo dục ĐH công lập đang được quy hoạch là kết quả thể chế - quy hoạch nổi bật. Quy hoạch xác lập giảm tối thiểu 20% đầu mối ĐH công lập; 100% cơ sở đạt chuẩn quốc gia, 20% được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á; 50 - 60 cơ sở đào tạo tiến sĩ, khoảng một nửa theo định hướng nghiên cứu; 4 trung tâm giáo dục ĐH lớn; tỷ trọng STEM đạt 35%.
Quy hoạch định hình phương án phát triển các ĐH quốc gia, ĐH vùng, mạng lưới đào tạo giáo viên và phân bố cơ sở theo vùng; quy định chấm dứt hoạt động trước năm 2028, giải thể trước năm 2030 đối với cơ sở hoặc phân hiệu không đạt chuẩn hoặc chưa xác lập vị trí pháp lý. Chiến lược phát triển giáo dục ĐH tiếp tục cụ thể hóa bằng phân nhóm sứ mạng, hợp đồng kết quả, đặt hàng và phân bổ nguồn lực theo hiệu quả.
Theo nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026 - 2027 gắn với định hướng đến năm 2030, Bộ GD-ĐT phối hợp các bộ, ngành, địa phương rà soát phương án sắp xếp mạng lưới theo thẩm quyền, đánh giá tác động đối với người học, đội ngũ, tài sản, đất đai và hoạt động nghiên cứu.
Đến tháng 12.2026, chuẩn bị tiêu chí và hồ sơ đánh giá nhóm cơ sở trọng điểm, định hướng tinh hoa, dự kiến 30 cơ sở trọng điểm và 3 - 5 ĐH định hướng xuất sắc theo dự thảo; lựa chọn theo năng lực, ngành, vùng và sản phẩm cam kết, trình cấp có thẩm quyền quyết định.
Liên kết các cơ sở với viện nghiên cứu, khu công nghệ cao và doanh nghiệp, tổ chức sử dụng chung phòng thí nghiệm, dữ liệu và hạ tầng nghiên cứu. Rà soát các đề án đã phê duyệt cho ĐH quốc gia, cơ sở trọng điểm và các vùng.
Mở rộng đào tạo sau ĐH có chọn lọc, chương trình tiến sĩ toàn thời gian, chương trình tài năng và sau tiến sĩ; gắn người học với nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm xuất sắc, nhiệm vụ khoa học và đối tác doanh nghiệp.
Bộ GD-ĐT cũng nêu đề xuất đối với Chính phủ về việc lựa chọn các cơ sở giáo dục ĐH giàu tiềm năng để trao quyền tự chủ cao hơn, giao nhiệm vụ lớn hơn nhằm xây dựng các mô hình ĐH tinh hoa, ĐH trọng điểm xuất sắc ngang tầm quốc tế. Giao nhiệm vụ và ưu tiên nguồn lực đào tạo nhân lực trình độ cao (đặc biệt là sau ĐH) trong các ngành chiến lược (AI, bán dẫn, công nghệ số, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng).
Hà Ánh










Bình luận (0)